5 triệu chứng không ngờ của ung thư vú

Những dấu hiệu này có thể khiến bạn nghĩ đến các bệnh khác hơn là ung thư vú. Tuy nhiên, đã đến lúc bạn nên cẩn trọng và cân nhắc hơn nếu gặp phải chúng.

1. Ngứa, đau, hoặc đỏ ở ngực

Nếu có cảm thấy nóng hoặc rát khi chạm vào da thì đây là một trong các dấu hiệu của bệnh ung thư vú dạng viêm, một dạng hiếm của ung thư vú. Ung thư vú dạng viêm có thể làm vú sưng to và đau. Da tại vùng ngực thường có màu đỏ, có vảy hoặc tím giống như bị bầm. Ngoài ra, bề mặt da cũng biến đổi trở nên gập ghềnh như bị cenlullite trên ngực.

Lúc đầu, cảm giác đau nhức có thể giống các cơn đau nhức thường thấy của hội chứng tiền kinh nguyệt. Da bị tấy đỏ và ngứa dễ làm bạn lầm tưởng với dị ứng da. Nhưng các triệu chứng này sẽ không hề biến mất sau vài ngày.

Ung thư vú dạng viêm chỉ chiếm 3% trong tổng các trường hợp ung thư vú. Ở dạng ung thư này, tế bào ung thư phát triển nhanh chóng làm nghẽn mạch máu nuôi da. Bởi vì da có biểu hiện như đỏ, ngứa, nóng nên thường bị nhầm lẫn với bệnh viêm vú hoặc nhiễm trùng trong ống dẫn sữa xung quanh núm vú.

2. Đau lưng trên

Một số phụ nữ đã từng cảm thấy bị đau lưng trước khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu nào khác báo hiệu bệnh ung thư vú. Cảm giác đau thường tập trung tại khu vực giữa lưng lên bả vai nên dễ khiến chúng ta tưởng rằng mình bị đau cơ bắp, dây chằng hoặc viêm xương khớp cột sống.

Nguyên nhân hiện tượng này là do hầu hết các khối u phát triển trong mô tuyến vú, mở rộng sâu vào ngực, gần thành ngực. Nếu khối u tăng trưởng ngược về phía xương sườn và xương sống thì bạn có thể cảm thấy đau ở phía lưng hơn là ở vú. Ung thư vú cũng có xu hướng di căn hay lan đến cột sống hoặc các xương sườn, trở thành ung thư xương thứ cấp.

3. Núm vú thay đổi

Một trong những nơi khối u xuất hiện phổ biến nhất chính là bên dưới núm vú. Nó có thể làm biến đổi hình dạng và cảm giác tại vùng núm vú. Nam giới mắc ung thư vú thường có hiện tượng này. Phần núm vú có thể bị phẳng, thụt vào, giảm độ nhạy cảm, có vảy và bị viêm…

Hiện tượng này xảy ra khi một khối u xuất hiện trong ống dẫn sữa, nằm phía sau núm vú hoặc ép núm vú qua một bên. Trong trường hợp này, khối u có thể gây kích ứng và nhiễm trùng.


4. Một bên vú thay đổi hình dạng và kích thước

Không chỉ khi cảm nhận được một khối u bên trong ngực bạn mới nghi ngờ đến ung thư vú. Thực tế, một số phụ nữ cho biết, khi họ bị ung thư vú, điều đầu tiên họ thấy là sự thay đổi hình dạng của một bên ngực. Một bên ngực có thể mang hình bầu dục, treo thấp hơn so với bên còn lại… Do đó, bạn nên thường xuyên kiểm tra hình dạng ngực bên ngoài của mình trong gương trước khi cảm thấy có khối u bên trong nó.

5. Đau, sưng, hoặc có một khối u ở nách


Bạn biết tại sao các hạch bạch huyết ở cổ và cổ họng của bạn cảm thấy đau khi bạn bị cúm? Điều tương tự cũng xảy ra với các hạch bạch huyết ở nách của bạn, bởi vì đó là  nơi ung thư vú lây lan đầu tiên thông qua dịch bạch huyết từ vú. Các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng có thể bị sưng phồng hoặc phát triển một khối u. Bất kỳ cơn đau nào xảy ra ở vùng nách cũng là một dấu hiệu nên được kiểm tra cẩn thận bằng ngón tay. Đặc biệt lưu ý khi có một khu vực mô cứng hơn hoặc khó di chuyển khi bạn rê ngón tay.

Nguyên nhân khiến khối u xuất hiện tại nách là do các hạch bạch huyết khu vực này gần nhất với vú và do đó có thể bị ảnh hưởng bởi dịch bạch huyết. Khi bệnh ung thư vú lây lan, đây thường là nơi đầu tiên nó di căn.
Xem chi tiết…

Những triệu chứng ung thư vòm họng

Vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu trúc là một hình hộp có sáu mặt. Mặt trước là cửa mũi sau, mặt sau là niêm mạc họng và cân quanh họng, hai bên là loa vòi nhĩ, mặt trên là bờ dưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm, mặt dưới thông với họng miệng.

Ung thư vòm họng liên quan nhiều đến yếu tố môi trường, tình trạng ô nhiễm, bụi, khói... và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc... do những thứ này chứa nitrosamine - chất gây ung thư); do virut Epstein Barr (EBV); do yếu tố gen di truyền. Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên.

Khi bị ung thư vòm mũi họng ở giai đoạn đầu thường có biểu hiện đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ, dùng thuốc giảm đau không có tác dụng. Giai đoạn khu trú thường có các triệu chứng thần kinh (đau nửa đầu, đau sâu trong hốc mắt), triệu chứng mũi xoang (ngạt tắc một bên mũi, chảy nước mũi nhầy, thỉnh thoảng có lẫn máu), triệu chứng tai (ù tai, nghe kém, có thể viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm), xuất hiện hạch cổ và hạch dưới hàm. Giai đoạn di căn thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu vàng rơm, hay bị sốt do bội nhiễm kèm theo các triệu chứng khác theo hướng lan của khối u.

Mô tả sơ bộ như thế để bạn thấy bạn chưa có dấu hiệu nào của ung thư vòm họng. Tuy nhiên để chắc chắn, bạn nên đến khám tại chuyên khoa tai mũi họng để được bác sĩ thăm khám cụ thể và có hướng điều trị thích hợp.
Xem chi tiết…

Triệu chứng của bệnh ung thư hạch bạch tuyết

Những bệnh ung thư bắt đầu từ hệ thống hạch bạch huyết được gọi là các u lympho. Có hai loại chính là: u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin. Mặc dù đó là hai loại u lympho, vẫn có sự khác nhau giữa chúng, vì thế việc điều trị cũng khác nhau.


Triệu chứng của bệnh ung thư hạch bạch tuyết
   - Phì đại (nhưng không đau) các hạch bạch huyết ở cổ, nách, háng
   - Sốt hồi quy không rõ nguyên nhân
   - Ra mồ hôi ban đêm
   - Sút cân
   - Ngứa ngáy
   - Các triệu chứng này không nhất thiết phải do bệnh Hodgkin gây ra, nhưng nên đi khám để tìm nguyên nhân.
   - Đừng đợi đến khi hạch bạch huyết trở nên đau.
 Bệnh Hodgkin lúc khởi đầu thường không gây đau.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư đường mật

Thông thường người ta chỉ biết ung thư gan dạng ung thư tế bào gan , nhưng có dạng ung thư đường dẫn mật rất quan trọng mà chẩn đoán vô cùng khó khăn, khi đã chẩn đoán ra bệnh thường đã quá trễ. Chẩn đóan ung thư đường mật là một thách thức  từ khi nó được mô tả lần đầu tiên bởi Durand –Fardel  vào 1840. Tài liệu báo cáo tổng hợp đầu tiên được thực hiện bởi Stewart và cộng sự vào năm 1940 . Vào năm 1965, nhà phẫu thuật Gerald Klaskin đã công bố những nhóm bệnh nhân đầu tiên với carcinoma đường mật ở rốn gan, và giới thiệu khái niệm phẫu thuật tận gốc về bệnh đường mật . Tuy nhiên, tại thời điểm đó việc phẫu thuật có liên quan với tỉ lệ tử vong và thất bại cao. Thêm vào đó do thiếu những kỹ thuật chẩn đóan phù hợp nên bệnh thường được chẩn đóan trễ với không còn khả năng điều trị. Mặc dù carcinoma đường mật là một ung thư phát triển chậm với khuynh hướng di căn muộn, nhưng đường đi của sự thâm nhiễm và  những cấu trúc chức năng liên quan đến sự sống còn của cơ thể đã ngăn cản sự cố gắng điều trị của hầu hết các trung tâm cho đến hiện nay. Vào cuối thập niên này đã đưa ra những phát triển mới về x quang học, dạ dày –ruột học và phẫu thuật với một hy vọng cho việc điều trị ở một số lớn bệnh nhân ngày nay.

Đặc điểm then chốt của carcinoma đường mật là sự gia tăng nghẽn đường mật với biểu hiện tắc mật. Những bệnh nhân biểu hiện vàng da với phân bạc màu, tiểu sậm và ngứa. Những triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi, chán ăn, sụt cân và sốt không tìm được nguyên nhân có thể đồng hành hoặc đi trước sự tiến triển của vàng da. cẩn thận là cần thiết bởi vì carcinoma đường mật thỉnh thỏang cùng tồn tại với bệnh sỏi mật, mà nó là lý do gây nên sự giải thích sai lầm về lý do của sự tắc nghẽn. Một mặt khác, carcinoma đường mật gần sự phân nhánh hay carcinoma trong gan sẽ không gây vàng da bởi vì chỉ cần từ 10%đến 20% mô gan chức năng không bị cản trở thì cũng đủ để bài tiết bilirubin hiệu quả. Alkaline phosphatase là một marker nhạy cảm cho việc cản trở ống mật sớm, và carcinoma đường mật nên được cân nhắc với những chẩn đóan khác khi những bệnh nhân biểu hiện với một sự gia tăng đơn độc của alkaline phosphatase.
Cản trở đường mật có thể gây nên những vấn đề thứ  phát nghiêm trọng. Đầu tiên, những bệnh nhân tắc mật sẽ dẫn đến viêm đường mật. Cấy mật ở những bệnh nhân có cản trở đường mật thì phát hiện nhiễm vi khuẩn ở 32% bệnh nhân. Klebsiella, E. coli, và Streptococcus faecalis là những tác nhân thường gặp nhất .  Dẫn lưu hiệu quả đường mật và điều trị kháng sinh khi bất kỳ một thủ thuật nào về đường mật được thực hiện là then chốt. Một vấn đề thứ phát thường gặp là thiếu nước và dinh dưỡng ở những bệnh nhân tắc mật trầm trọng do buồn nôn, nôn, và mệt mỏi tòan thân. Sự bổ sung đầy đủ lượng nước thiếu và dinh dưỡng là quan trọng để tránh những biến chứng nặng sau phẫu thuật.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư não

Ở giai đoạn sớm, u não hầu hết thường dẫn tới đau đầu và cảm giác bị ốm (buồn nôn). Những triệu chứng xuất hiện thường do việc tăng áp lực tới vùng não do sự phát triển của khối u. Sự tăng áp lực gọi là tăng áp lực nội sọ (ICP).

Dĩ nhiên có rất nhiều lý do khác dẫn đến đau đầu và có cảm giác ốm, nhưng nếu bạn bị như thế vài tuần mà không có dấu hiệu tiến triển thì rất cần phải đến gặp bác sỹ.

Những cơn đau đầu dữ dội thường đến vào các buổi sáng và thường làm bạn thức giấc. Thông thường đau đầu kiểu này sẽ giảm hơn trong ngày. Tuy nhiên, nó có thể đau hơn khi bạn ho, hắt hơi, cúi xuống hoặc làm các công việc nặng khác. Tất cả những việc đó đều có xu hướng gây tăng áp lực lên não.

Nếu việc tăng áp lực khiến bạn bị ốm thì bạn sẽ bị nặng vào buổi sáng, giảm nhẹ đi trong ngày, đôi khi nó còn khiến bạn bị nấc.

Như đã mô tả ở trên, tăng áp lực trong hộp sọ cũng gây rối loạn tầm nhìn của bạn khiến bạn bị nhầm lẫn và ảnh hưởng đến khả năng thăng bằng.

Một dấu hiệu thường gặp khác của u não là chứng động kinh dẫn đến ngất, các cơn co thắt hoặc những thời điểm vô thức. Có những cơn đau có thể rất dữ dội nhưng không nhất thiết là do một khối u não. Tuy nhiên bạn rất cần phải đến phòng y tế để kiểm tra nguyên nhân chính xác và có biện pháp chữa trị phù hợp.

Những triệu chứng liên quan đến vị trí của khối u.

Một vài triệu chứng có thể được gây ra bởi khối u tại một số vùng cụ thể của não. Nhìn chung mỗi vùng của não điều khiển một số chức năng cụ thể, và khối u có thể làm cản trở hoạt động bình thường của não.

Một số những triệu chứng của u não được liệt kê dưới đây theo nhóm dưới các phần khác nhau của não. Nó chỉ mang tính chất định hướng, việc chuẩn đoán chính xác sẽ được thực hiện bởi các bác sỹ thông qua các cuộc xét nghiệm. Có một sơ đồ mô tả các chức năng khác nhau của mỗi vùng của não.

• U thù trán: Thay đổi về tính cách và trí tuệ. Đi không thẳng hàng hoặc suy nhược một bên người. Mất khứu giác, đôi khi khó phát âm.

• U thùy đỉnh: Khó khăn trong việc diễn đạt hoặc hiểu từ ngữ, có vấn đề trong đọc hoặc viết. Khó khăn trong việc thực hiện các di chuyển phối hợp. Liệt hoặc suy yếu nửa người.

• U thuỳ trẩm: Mất tầm nhìn một phía. Dấu hiệu này có thể không dễ nhận ra ngay và đôi khi được phát hiện trong quá trình làm các xét nghiệm về mắt.

• U thuỳ thái dương: Các cơn đau có thể dẫn tới những cảm giác kỳ lạ: Một cảm giác của sự sợ hãi hoặc sợ những thứ quen thuộc, mùi lạ hoặc tối sầm mặt mũi. Đôi khi khó phát âm.

• U tiểu não: Thiếu những sự phối hợp ảnh hưởng đến đi bộ và phát âm (chứng loạn cận ngôn), loạng choạng, mắt đảo không có chủ ý (chứng giật cầu mắt). Nôn và vướng cổ.

• U cuống não: Mất phương hướng và không kết hợp trong các bước đi. Mặt biến dạng, cười lệch một bên hoặc xệ mí mắt. Nhìn một thành hai, một số ít bị nôn hoặc đau đầu sau khi đi bộ, khó nói và nuốt. Những triệu chứng đó có thể xuất hiện dần dần.

Tất cả những triệu chứng trên có thể gây ra bởi các nguyên nhân khác mà không phải là u não. Nếu bạn thấy xuất hiện bất cứ dấu hiệu nào như đã mô tả cần khẩn trương đến gặp bác sỹ.

Thay đổi tính cách

Đôi khi u não có thể dẫn đến sự thay đổi trong tính cách và hành vi. Những triệu chứng của nó có thể xuất hiện khi khối u ở trong bán cầu não. Tình trạng này có thể khiến bệnh nhân và người nhà hết sức sợ hãi. Đôi khi cần nhờ đến sự trợ giúp các chuyên gia tâm lý để xác định mức độ và tìm ra phương pháp để chữa trị.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư amidan

Đau họng là một bệnh lý gây khó nuốt và nuốt đau nhưng thường tự hết trong vài ngày, ngay cả khi không dùng thuốc. Tuy nhiên, nó cũng có thể là biểu hiện của bệnh ung thư amiđan.

Căn bệnh nguy hiểm này thường dễ bị nhầm lẫn với đau họng bình thường. Chúng ta đã nghe nói nhiều về amiđan, thế còn ung thư amiđan là gì? Những thông tin sau sẽ giúp giải đáp phần nào thắc mắc của bạn.
- Ung thư amiđan là sự biến đổi ác tính của tế bào biểu mô phủ amiđan. Điều đó có nghĩa loại ung thư này chỉ xuất hiện ở khu vực amiđan?

Ngoài amiđan, vị trí thường phát triển ung thư amiđan là hai mào của mô phía trước và sau amiđan. Ngoài ra, các vị trí lân cận amiđan cũng có khả năng phát triển ung thư là mặt sau gốc lưỡi, phần mềm ở vòm miệng, thành sau của họng.

- Ngoài đau họng, ung thư amiđan còn có những triệu chứng nào?

Đau họng là triệu chứng chủ yếu, ngoài ra còn có các triệu chứng như nuốt vướng, đổi giọng nói, khạc ra máu, hơi thở có mùi hôi...
Về lý thuyết, ung thư amiđan có thể chẩn đoán sớm. Nhưng trên thực tế, rất ít trường hợp được chẩn đoán sớm do triệu chứng dễ nhầm lẫn với các bệnh viêm nhiễm vùng hầu họng.

- Bên cạnh thuốc lá còn những nguyên nhân nào gây ra ung thư amiđan?


Rượu cũng là nguyên nhân chính gây ra ung thư amiđan. Nguy cơ mắc bệnh có thể tăng ba lần nếu nghiện rượu hoặc thuốc lá và tăng 15 lần nếu nghiện cả hai. Ung thư amiđan là bệnh thường gặp ở lứa tuổi 50 đến 70. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn từ 3 đến 4 lần so với phụ nữ.

- Điều đó có nghĩa là phụ nữ trẻ, không hút thuốc và uống rượu sẽ không bao giờ mắc phải căn bệnh này?

Quan niệm này không chính xác. Trước đây, bệnh nhân ung thư amiđan thường là nam giới khoảng 70 tuổi, nghiện thuốc lá hoặc rượu. Giờ đây, danh sách bệnh nhân đã có nhiều thay đổi.
Những người ở độ tuổi 30 hoặc 40, ngay cả một số người ngoài 20 tuổi, không hút thuốc và không có tiền sử lạm dụng rượu cũng có thể mắc bệnh này. Sự thay đổi đó xuất hiện sau khi các nhà khoa học phát hiện ra mối liên hệ giữa quan hệ bằng đường miệng và ung thư amiđan. Vi rút HPV-16 chính là thủ phạm của việc này.
Dù chưa có bằng chứng chính xác, các nhà khoa học cho rằng các loại vi rút này còn có khả năng truyền từ miệng sang miệng.

- Có thể điều trị ung thư amiđan theo những phương pháp nào?

Có ba phương pháp thường được dùng để điều trị ung thư amiđan: phẫu thuật, xạ trị và hoá trị.
Nếu được phát hiện sớm (khi khối u trong amiđan vẫn còn nhỏ), bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật hoặc xạ trị. Trường hợp khối u đã phát triển, chèn ép toàn bộ amiđan hoặc bắt đầu phát triển ra ngoài, có thể bạn sẽ cần phẫu thuật kết hợp với xạ trị.
Khi này, một phần họng của bạn sẽ được cắt bỏ phụ thuộc vào kích cỡ của khối u. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất, bác sĩ có thể phải cắt bỏ một phần vòm miệng mềm hoặc cuống lưỡi của bệnh nhân. Sau đó, họ sẽ tiến hành tái tạo lại khu vực bị phẫu thuật bằng mô lấy từ phần khác trong cơ thể.
Hoá trị (sử dụng các loại dược phẩm chống ung thư) không phải là phương pháp được ưu tiên trong điều trị ung thư amiđan.
Tuy nhiên các nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy việc kết hợp giữa hóa trị và xạ trị có thể cho kết quả tốt. Hiệu quả của nó được đánh giá là tương đương phương pháp phẫu thuật đối với những khối u lớn trong điều trị ung thư amiđan.

- Không biết việc điều trị đối với những trường hợp khối u đã di căn ra các cơ quan bên ngoài amiđan có khác gì nhau?

Ung thư giai đoạn cuối gây ra các triệu chứng như đau đớn, chảy máu và khó nuốt. Đối với trường hợp này, khối u cần được làm teo lại rồi mới tiến hành phẫu thuật cắt bỏ. Để làm teo khối u, bệnh nhân có thể được điều trị bằng hoá trị hoặc xạ trí. Việc kết hợp cả 2 phương pháp cũng thường được sử dụng.

- Việc điều trị có thật sự an toàn hay không?

Tất cả mọi phương pháp điều trị đều tiềm ẩn nguy cơ. Phẫu thuật vùng họng có thể gây ra tình trạng sưng tấy và khó thở. Khi đó, bệnh nhân tạm thời sẽ được mở một lỗ trong khí quản, cho phép bạn thở bình thường đến khi chỗ sưng xẹp xuống.
Phẫu thuật ở họng cũng có thể ảnh hưởng đến giọng nói của bạn. Tình trạng này có thể chỉ là tạm thời nhưng cũng có khi là vĩnh viễn.

- Có phải người đã cắt amiđan sẽ không bao giờ bị ung thư amiđan?

Nếu phẫu thuật không cắt bỏ hoàn toàn amiđan, bạn vẫn có nguy cơ bị ung thư ở bộ phận này.
Xem chi tiết…

Triệu chứng của ung thư dương vật

Ung thư dương vật là bệnh hiếm gặp ở phương Tây và các dân tộc có tục lệ cắt bao quy đầu sớm cho trẻ sơ sinh nhưng bệnh này vẫn thường gặp ở nước ta. Mỗi tuần tại Bệnh viện Ung bướu TP.HCM đều mổ trung bình hai ca ung thư dương vật.

Yếu tố nguy cơ chính gây bệnh được xác định là hẹp bao quy đầu, tình trạng này sẽ làm ứ đọng chất bựa (là sản phẩm tác động của vi khuẩn trên các tế bào thượng bì bong tróc), đây chính là chất được quy kết gây ung thư dương vật.

Các triệu chứng của ung thư dương vật có thể xuất hiện ngay tại dương vật như một chỗ ngứa, một khối cứng nằm bên dưới bao quy đầu (nếu bao quy đầu không tuột lên được), hoặc một khối sùi hay vết loét ở đầu dương vật kèm chảy dịch và chảy máu, trễ hơn nữa ung thư có thể ăn sâu hơn và phá hủy cấu trúc của quy đầu và dương vật. Đôi khi bệnh nhân đến khám vì các triệu chứng tại hạch bẹn và được điều trị hạch bẹn mà bỏ sót thương tổn nguyên phát tại dương vật.

Do tâm lý ngại ngùng giấu bệnh, khi đến khám đã ở giai đoạn trễ

Đối với các thầy thuốc chuyên khoa, việc chẩn đoán ung thư dương vật rất đơn giản và sinh thiết bướu sẽ giúp xác định bệnh và là bước không thể thiếu trước khi điều trị.

Chẩn đoán càng sớm thì khả năng chữa khỏi càng cao và khả năng bảo tồn cũng càng cao.

Các phương tiện điều trị chính, có hiệu quả được công nhận hiện nay là phẫu thuật và xạ trị. Tùy thuộc giai đoạn bệnh có thể mổ, nhẹ như cắt bao quy đầu, cắt rộng bướu tại chỗ, cắt quy đầu, nặng hơn là cắt dương vật một phần hoặc toàn phần, cắt cơ quan sinh dục ngoài có thể kèm theo nạo hạch vùng bẹn và chậu.

Chính vì vậy ở nước ta hiện nay để phòng ngừa ung thư dương vật, đối với các trường hợp bị hẹp bao quy đầu cần nong hoặc xẻ bao quy đầu càng sớm càng tốt. Đối với các trường hợp bao quy đầu dài nhưng có thể tuột lên được thì nên tuột bao quy đầu sớm để tiện việc vệ sinh hằng ngày, dễ phát hiện các tổn thương bất thường bên dưới. Bất kỳ tổn thương bất thường nào ở dương vật cần đi khám sớm tại các trung tâm y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời, nhằm bảo tồn cơ quan quý này và chữa khỏi hẳn bệnh.
Xem chi tiết…

Triệu chứng của ung thư ruột

Đi ngoài ra máu nâu là biểu hiện thường gặp nhất của ung thư đường ruột, tránh nhầm lẫn với bệnh trĩ.

Ung thư ruột (đoạn cuối của đường tiêu hóa) dễ chữa nếu được phát hiện sớm, so đa phần người bệnh thường phát hiện muộn khi bệnh đã di căn. Vì vậy, nếu những triệu chứng sau đây kéo hơn 2 tuần, hãy đi gặp bác sĩ.

- Có những đốm máu trong phân, đặc biệt nếu máu sẫm màu hoặc có màu mận chín - đây là triệu chứng thường gặp nhất và không bao giờ nên bỏ qua.

- Thay đổi trong thói quen của đường ruột, như táo bón hoặc tiêu chảy, trở nên nặng hơn hoặc kéo dài trên 2 tuần.

- Muốn đi ngoài nữa ngay cả khi vừa rời toilet ra.

- Đau bụng hoặc khó chịu kéo dài trên 2 tuần

- Giảm cân không rõ nguyên nhân

BBC cũng cho biết một số người mắc bệnh cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt hoặc khó thở vì họ bị thiếu máu do máu rỉ ra từ đường ruột.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư lưỡi

Tổn thương ở niêm mạc miệng có rất nhiều nguyên nhân như: răng sâu, viêm quanh răng, viêm quanh chóp răng, viêm tủy răng...; do những sang chấn từ bên ngoài; do nhiễm khuẩn...

Biểu hiện bị nhiệt miệng đó là các triệu chứng viêm nhiễm, sưng nóng đỏ đau, lở loét rất khó chịu nhất là khi nhai nuốt, ăn uống; có thể là những áp xe ở nông như áp xe dưới lưỡi, dưới niêm mạc, áp xe tiền đình trên hay dưới; nhẹ hơn là những vết loét ở lưỡi và niêm mạc miệng, khi viêm cấp thường tấy đỏ và rất đau, thậm chí sốt cao, nổi hạch góc hàm, ăn uống khó khăn; khi chuyển sang màu trắng và đỡ đau là lúc bệnh bắt đầu giảm.

Thông thường những loại viêm loét nhẹ chỉ cần uống kháng sinh, vệ sinh răng miệng, giảm đau, chống dị ứng, tăng cường sức đề kháng, bổ sung sinh tố nhóm B là khỏi trong vòng 10 ngày. Song đôi khi có những nhiễm trùng nặng như áp xe vùng miệng sâu, viêm tấy lan tỏa hay gặp ở những vùng dưới lưỡi, dưới hàm, bên hầu kèm theo toàn thân suy nhược, nhiễm khuẩn nặng thì cần phải cấy máu nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết và phải làm kháng sinh đồ. Viêm nhiễm lở loét ở niêm mạc miệng là một bệnh thường gặp và diễn biến thường lành tính. Bạn cần vệ sinh răng miệng, tránh ăn quá nhiều đồ nóng, bia rượu; điều trị triệt để các bệnh về răng miệng và xúc miệng nước muối sinh lý hằng ngày; ăn uống đủ chất, tăng cường hoa quả; bổ sung sinh tố để nâng cao sức đề kháng.

Ung thư lưỡi khó phát hiện

Ung thư lưỡi là loại ung thư thường gặp. Tuy nhiên do nhầm tưởng với bệnh nhiệt miệng nên đa số bệnh nhân khi phát hiện bệnh đã vào giai đoạn cuối.

Trong trường hợp lở loét tái phát nhiều lần hoặc kéo dài không khỏi có kèm theo các triệu chứng toàn thân khác như mệt mỏi, gầy (sút cân), biếng ăn, có những biến chứng tại chỗ như sưng thành một đám cứng không có giới hạn, chảy máu lưỡi, ngứa hoặc đau rát lưỡi, có khối u ở vùng lưỡi hoặc khó khăn khi nói, nhai, sốt cao... thì cần đi khám để xác định số lượng, vị trí, kích thước, mật độ màu sắc, bờ của tổn thương liên quan đến tổ chức ở dưới, tính chất xuất tiết của tổn thương, cần thiết sẽ sinh thiết làm xét nghiệm tế bào học để chẩn đoán. Không loại trừ một trong những biểu hiện trên là triệu chứng của ung thư lưỡi.

Nguyên nhân gây bệnh

Cũng giống như ung thư niêm mạc má và ung thư vòm họng, hầu hết bệnh nhân ung thư lưỡi có sử dụng thuốc lá và rượu. Những người nghiện rượu hay thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh rất cao. Ngoài ra, viêm cận răng cũng là nguyên nhân sinh ra tế bào ung thư lưỡi, tình trạng vệ sinh răng miệng kém cũng được coi là thủ phạm.

Ngoài những nguyên nhân trên, người bệnh vẫn có nguy cơ mắc ung thư lưỡi nếu vệ sinh răng miệng không được đảm bảo.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, việc phòng tránh ung thư lưỡi không khó. Việc phát hiện sớm ung thư lưỡi có thể giúp cứu sống 85% bệnh nhân. Nên vệ sinh răng miệng đều đặn; sử dụng nước súc miệng chuyên dụng hoặc nước muối để súc miệng ngừa sâu răng và nhiễm trùng nướu răng. Hạn chế sử dụng rượu bia và bỏ thuốc lá.

Khi thấy vết loét lâu ngày không lành, đồng thời xuất hiện các khối u hạch bất thường ở cổ thì phải đến cơ sở y tế để được thăm khám. Bác sĩ sẽ sinh thiết vùng bị tổn thương trên lưỡi để phát hiện có bị ung thư hay không.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư miệng

Nguyên nhân ung thư miệng:

Hút thuốc lá và uống rượu là những nguyên nhân chính gây ra các ung thư đầu cổ trong đó có ung thư khoang miệng. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém... có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Ngoài ra, một số yếu tố nguy cơ khác như nhiễm virus Herpes, HPV (Human Papilloma Virus), hội chứng Xeroderma pigmentosum, thiếu máu Fanconi... cũng được cho là có liên quan đến ung thư khoang miệng.

Loại ung thư hay gặp nhất ở khoang miệng là ung thư biểu mô tế bào vảy (95%) và thường xuất hiện ở niêm mạc miệng. Ung thư biểu mô tế bào vảy được chia làm 3 loại: biệt hóa cao, biệt hóa vừa và kém biệt hóa. Ngoài ra còn có các loại ung thư khác như ung thư biểu mô tuyến nang, ung thư tổ chức liên kết và ung thư hắc tố bào.
Ở Việt Nam, tỷ lệ ung thư miệng ở nữ giới cao. Điều này, theo một số nhà khoa học, có thể do nữ giới ăn nhiều trầu thuốc. Ung thư lưỡi thường gặp nhiều trong ung thư miệng.

Các nguyên nhân gây ung thư miệng chưa được xác định rõ, nhưng các yếu tố sau có thể là nguyên nhân chủ yếu: hút thuốc lá và uống rượu trong một thời gian dài, niêm mạc miệng luôn bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào, niêm mạc miệng bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ngoài ra, ánh nắng là yếu tố quan trọng gây ung thư môi.

Hầu hết các bệnh nhân bị ung thư miệng không có cảm giác đau ở giai đoạn sớm. Triệu chứng đầu tiên thường là cảm giác khó chịu do kích thước của khối u gây ra.Việc điều trị ung thư miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao nếu bệnh nhân được điều trị ở giai đoạn sớm (lúc u còn nhỏ và chưa di căn xa) bằng phẫu thuật, tia xạ hoặc hóa chất.

Dấu hiệu của ung thư miệng bao gồm:

-  Cơn đau không dứt bên trong miệng.

-  Vết thương gây nhức nhối và sưng tấy trong miệng.

-  Khó khăn khi cử động miệng và quai hàm.

-  Khó khăn khi nuốt hay nhai.

-  Nhức nhối ở cổ họng.

-  Có bướu ở cổ.

-  Cơn đau rõ ràng ở một bên tai.

-  Chải máu từ lưỡi, nướu răng hoặc má mà không chẩn đoán được.

-  Tê cóng ở một vùng nào đó của miệng hoặc hàm.

Ung thư miệng được chẩn đoán nhờ kiểm tra sinh thiết và các đánh giá lâm sàng để chẩn đoán giai đoạn và loại ung thư. Ung thư hiện diện khi lớp niêm mạc biểu mô bị phá hủy. Ung thư có thể lan rộng đến những vùng khác của miệng và cơ thể, dẫn đến ung thư thứ cấp có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng khác
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư thận

Nam giới bị ung thư thận nhiều gấp đôi nữ

Ung thư thận chiếm khoảng 3% các loại ung thư ở người lớn. Bệnh thường xuất hiện ở người trên 40 tuổi, tỷ lệ mắc ở đàn ông cao gấp đôi phụ nữ.

Theo một nghiên cứu chuyên ngành ung thư, tỷ lệ mắc ung thư thận (u ác tính nguyên phát của nhu mô thận) trên 100.000 người ở Việt Nam là 1,13%. Nhiều nhà khoa học nghi ngờ rằng, thuốc lá có thể là nguyên nhân gây ra căn bệnh này, vì người nghiện thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi so với người không hút thuốc lá.

Đi tiểu ra máu – triệu chứng điển hình

Biểu hiện rõ nhất ở người bị ung thư thận là đi tiểu ra máu (xuất hiện ở 80% trường hợp) mà không đau, không kèm theo sốt. Có người đau âm ỉ vùng thắt lưng, sau đó lan ra trước hoặc xuống dưới do u phát triển làm căng bao thận. Nhiều người bệnh bị đau quặn thận khi có cục máu di chuyển xuống bàng quang. Nếu khối u vỡ đột ngột, sẽ xuất hiện hiện tượng chảy máu sau phúc mạc.

Ngoài các dấu hiệu trên, 3% – 10% bệnh nhân ung thư thận xuất hiện những triệu chứng như sốt 39 – 40 độ C trong nhiều tuần liền, sức khoẻ giảm sút không rõ nguyên nhân. Ở một số người bệnh, nồng độ canxi trong máu tăng, xuất hiện triệu chứng đa hồng cầu kèm theo đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt, ngứa ở các chi hoặc rối loạn thị giác.

Dựa vào những triệu chứng đa dạng của bệnh cộng với phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, bác sĩ có thể phát hiện bệnh từ rất sớm, khi khối u còn nhỏ, khu trú ở trong thận.

Các xét nghiệm cần làm

Qua xét nghiệm sinh hoá (bao gồm công thức máu, tốc độ lắng máu, canxi máu, phosphatase kiềm, chức năng thận, chức năng gan), bác sĩ đánh giá được chức năng của thận, tình trạng toàn thân để từ đó phát hiện các dấu hiệu của hội chứng cận ung thư.

Qua chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ theo dõi được sự phát triển của khối u (nếu có). Siêu âm là biện pháp nên sử dụng trước tiên vì dễ sử dụng, không gây nguy hiểm cho bệnh nhân và khả năng phát hiện ung thư rất cao. Siêu âm cho phép chẩn đoán u đặc ở thận (ngay cả với u nhỏ, chưa có biểu hiện lâm sàng), di căn vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chủ, hạch ở cuống thận.

Trước đây, chụp động mạch thận là phương pháp hình ảnh quan trọng nhưng hiện được thay thế bằng chụp cắt lớp vi tính, một phương pháp cho phép xác định tính chất và đánh giá sự xâm lấn của u. Trên hình chụp, ung thư thận được thể hiện như một khối u đặc, không đồng nhất, tỷ trọng ngang hoặc kém so với nhu mô lành của thận. Chụp cắt lớp vi tính cho phép phát hiện khối di căn vào rốn thận, mô quanh thận, tĩnh mạch thận và thượng thận, các cơ quan lân cận.

Phương pháp cộng hưởng từ cho phép bác sĩ phát hiện mầm ung thư di căn vào tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ và các cơ quan khác một cách chính xác mà không phải dùng chất cản quang.

Chụp nhấp nháy hệ thống xương giúp chẩn đoán sự xâm lấn và di căn của ung thư đến mức độ nào, từ đó bác sĩ sẽ có tiên lượng chính xác và đề ra phương pháp chữa trị thích hợp. Tuy nhiên, chỉ nên chụp nhấp nháy hệ thống xương khi người bệnh thấy đau xương và xét nghiệm thấy nồng độ phosphatase kiềm cao.

Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư bàng quang

Những dấu hiệu và triệu chứng
Ung thư bàng quang thường không có những dấu hiệu và triệu chứng khi ở giai đoạn sớm. Dấu hiệu cảnh báo đầu tiên là thường có máu trong nước tiểu (đái máu). Máu có thể thấy ở xét nghiệm nước tiểu, hoặc nước tiểu của bạn có thể xuất hiện màu đỏ đậm hơn bình thường.

Điều này không có nghĩa nhất thiết bạn mắc ung thư bàng quang, tuy nhiên, nhiều trường hợp thông thường khác – bao gồm nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bệnh thận, sỏi thận hoặc bàng quang, và các bệnh tuyến tiền liệt – có thể gây ra đái máu. Những tình trạng này cũng có thể gây ra những triệu chứng khác tương tự như ung thư bàng quang. Nếu bạn có bất kỳ những dấu hiệu hoặc triệu chứng nào dưới đây, bác sỹ của bạn có thể giúp bạn xác định chính xác nguyên nhân.
-    Đau khung chậu
-    Đau trong khi đi tiểu
-    Đi tiểu thường xuyên hoặc cảm thấy cần đi tiểu mà không kiểm soát được
-    Dòng nước tiểu bị chậm lại
Xem chi tiết…

Triệu chứng của ung thư phế quản

Khí quản chia ra hai nhánh, mỗi nhánh chi phối một lá phổi. Trong hai lá phổi, phế quản tiếp tục chia ra vô số các tiểu phế quản. Những tiểu phế quản, tận cùng là ống phế nang, dẫn vào từng phế nang.
Ung thư phế quản là ung thư một trong hai nhánh phế quản gốc, hay một đoạn phế quản thấp, gồm có phế nang. Đây là tình trạng tế bào quá sản, xâm lấn hay loét sùi của các tế bào phế quản phổi, cản trở, gây tắc nghẽn đường dẫn không khí.

Nguyên nhân gặp nhiều là nhiễm chất độc thuốc lá. Ung thư phát triển phá vỡ thành phế quản, xâm nhập nhu mô phổi và di căn. Ho là dấu hiệu đầu tiên. Ho khan, về sau ho có đờm nhày, thỉnh thoảng lẫn máu. Ho kéo dài, thở khò khè, khó thở do tắc nghẽn lòng phế quản, vì tế bào quá sản, xâm lấn và loét sùi gây tắc. Đau, tức ngực nhiều do ho nhiều, vừa co thắt các cơ hô hấp, vừa gây khó thở. Toàn thân suy sụp, sút cân... Soi phế quản bằng ống soi mềm nhìn thấy khối ung thư (vị trí, kích thước) và giúp cho việc sinh thiết khối u. Chụp Xquang và chụp cắt lớp cho thấy vị trí, hình ảnh ung thư.

Điều trị: Giai đoạn đầu chưa di căn, có thể tiến hành phẫu thuật kết hợp tia xạ và hóa chất. Giai đoạn đã di căn, chỉ điều trị bảo tồn bằng hóa chất, tia xạ.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư mắt

Mặc dù ung thư mắt là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi và hiếm gặp ở trẻ trên 7 tuổi. Nhưng trên thực tế, BV Mắt TP.HCM vẫn gặp khá nhiều trẻ trên 7 tuổi. Vì thế, các bậc cha mẹ cần tìm hiểu những biểu hiện của bệnh để kịp thời chữa trị cho con.

Những biểu hiện bệnh

Bệnh có thể biểu hiện rất rõ nét và dễ dàng phát hiện tại gia đình và các cơ sở y tế, ví dụ đốm sáng ở con ngươi, hay con ngươi trắng; nhưng đấy là dấu hiệu muộn.

Đôi lúc bệnh biểu hiện rất kín đáo như lé nhẹ và chỉ được phát hiện bởi bác sĩ chuyên khoa mắt kinh nghiệm cùng với sự trợ giúp của các phương tiện như siêu âm, chụp cắt lớp (CT scan).

Đồng tử trắng: người nhà phát hiện thấy mắt bé sáng trắng nhất là vào ban đêm như mắt mèo. Lé cũng là dấu hiệu thường gặp. Người nhà cần đưa trẻ đi khám ngay khi thấy trẻ có lé.

Các bác sĩ chuyên khoa sẽ khám và phát hiện bệnh sớm từ những dấu hiệu kín đáo này.

Ngoài ra, bệnh còn có những biểu hiện như:

Mắt đỏ, đau nhức do tăng nhãn áp thứ phát hay do phản ứng viêm
Giảm thị lực
Sưng tấy hốc mắt do bướu hoại tử
Lồi mắt
Chảy máu trong không do nguyên nhân chấn thương
Một số trường hợp không có biểu hiện bất thường chỉ phát hiện tình cờ khi khám sức khoẻ định kỳ tại các trường học.

Ung thư mắt: Ung thư có thể chữa lành

Hiện nay, bướu nguyên bào võng mạc là loại ung thư có thể chữa lành nếu được phát hiện sớm.

Sự phát triển của khoa học không chỉ dừng lại ở mức cứu sống bệnh nhân mà đã giữ lại cho trẻ con mắt còn chức năng. Hay nói cách khác, trẻ mắc bệnh bướu nguyên bào võng mạc có tỷ lệ sống sót cao và vẫn thấy đường sinh hoạt bình thường, không phải bỏ mắt.

Ở Việt Nam, điều trị chủ yếu là cắt bỏ nhãn cầu có bướu và truyền hoá chất ngăn ngừa di căn để cứu mạng sống cho trẻ.

Một số trẻ sống sau khi đã cắt bỏ cả hai nhãn cầu. Tỷ lệ trẻ sống sót sau cắt bỏ mắt khá cao (đánh giá trẻ sống trên 5 năm sau bỏ mắt mà không có tái phát bệnh hay di căn. Hơn thế nữa, các bác sĩ Việt Nam đang tiến những bước tiến đầu tiên trong việc áp dụng phương pháp bảo tồn mắt (không cắt bỏ mắt).

Các phương pháp này bao gồm: truyền hoá chất chống ung thư vào máu hay còn gọi là “vô hoá chất”, kết hợp với tiêm hoá chất vào ngay mắt và chiếu laser tại khối bướu.

Từ máy Laser của tổ chức ORBIS cho dự án điều trị bệnh võng mạc ở trẻ sinh non, các bác sĩ chuyên khoa Nhi BV Mắt TP.HCM đã áp dụng thiết bị này trong điều trị tại chỗ ung thư nguyên bào võng mạc. Qua đó phối hợp điều trị để bảo tồn nhãn cầu cũng như bảo tồn thị lực còn lại cho bệnh nhân ở giai đoạn sớm.

Tuy nhiên, từ trước đến nay, nhiều người quan niệm ung thư là hết đường cứu chữa. Ung thư là chỉ chờ chết, đụng dao kéo vào là chết nhanh hơn.

Nhiều người khác lại tin vào phương thức gia truyền như thuốc nam, thuốc bắc. Một gia đình đau xót trước cảnh con bị múc mắt hay do tập tục của một số dân tộc thà để con chết nhưng mắt còn nguyên vẹn.

Do đó khiến người nhà đưa trẻ đến khám trễ hay tự ý bỏ điều trị khi có yêu cầu bỏ mắt của các nhân viên y tế.

Chính vì vậy, bướu lớn nhanh do những loại thuốc đắp, ăn lan vào các tổ chức xung quanh (di căn) thậm chí di căn vào não khiến trẻ chết rất nhanh.

Một số trường hợp bướu lớn ăn lan ra ngoài gây mùi hôi khó chịu cho cả người thân. Lúc này gia đình mới đưa trẻ đến bác sĩ thì đã quá muộn.

Xử trí lúc này rất nặng nề và trẻ thường khó qua khỏi. Bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật nạo vét tổ chức hốc mắt. Sau đó, hốc mắt được nạo vét sát xương sọ trông rất sợ đến nỗi bản thân người mẹ có khi không dám nhìn khi thay băng.

Do đó, các bậc cha mẹ hãy chú ý quan sát mắt trẻ ngay sau khi chào đời và phát hiện những dấu hiệu bất thường sớm dù chỉ là chảy nước mắt, lé, đỏ, đau.

Ngoài ra nên cho trẻ đi khám mắt định kỳ ít nhất mỗi năm một lần, và không tự ý bỏ điều trị dù bất cứ lý do nào. 
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư thanh quản

Bị khàn tiếng, anh Đà (40 tuổi, Hà Nội) cho rằng chỉ viêm họng bình thường nên tự mua thuốc về uống. Hai tháng vẫn không khỏi, đi khám, bác sĩ kết luận anh bị ung thư thanh quản, vĩnh viễn mất đi giọng nói.

Anh Đà buộc phải cắt toàn bộ thanh quản vì khối u lan đã rộng.

Giống như anh Đà, mới đầu chị Thương, 35 tuổi, ở Ninh Bình, cũng bị khàn tiếng nhưng cứ nghĩ do nói quá nhiều vì nghề nghiệp là giáo viên cấp 3, lại thường xuyên đi dạy thêm. Chỉ đến khi không thể nói được nữa, khó thở, chị mới đến bệnh viện khám. Sau khi làm sinh thiết, bác sĩ cho biết đã bị ung thư thanh quản. Khối u đã phát triển quá lớn, chèn cả vào đường thở, phải cắt toàn bộ thanh quản. Việc nói nhiều càng làm cho bệnh tiến triển nặng hơn.

Theo Tiến sĩ Lương Minh Hương, Phó trưởng khoa Nội soi, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, những trường hợp như trên không phải là hiếm gặp. Rất nhiều người bị khàn tiếng nhưng chủ quan không đi khám vì nghĩ chỉ là viêm nhiễm đường họng bình thường. Nhưng thực tế, đó có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh.

Hiện tượng khàn tiếng gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới (chiếm hơn 60%). Tuy nhiên, khàn tiếng ở nam giới thường nguy hiểm hơn vì đây là dấu hiệu của ung thư thanh quản, đặc biệt ở nhóm người hút thuốc, uống rượu hoặc làm nghề độc hại.

"Điều đáng nói là gần đây, độ tuổi người bị khàn tiếng do ung thư thanh quản ngày càng trẻ hóa. Có người chỉ mới 28-30 tuổi đã mất giọng vĩnh viễn, trong khi trước rất hiếm gặp ở độ tuổi này", Tiến sĩ Hương nói.

Cũng theo bà Hương, có nhiều nguyên nhân gây hiện tượng khàn tiếng như: bị viêm họng, viêm thanh quản, bệnh do thay đổi thời tiết, thậm chí có thể do người bệnh nói quá to và nhiều trong thời gian dài... Với những trường hợp này chỉ cần chữa khỏi bệnh hoặc hạn chế nói thì khàn tiếng sẽ tự hỏi.

Ngoài ra, khàn tiếng cũng là biểu hiện của các bệnh như lao thanh quản, ung thư thanh quản... Nếu đi khám và điều trị sớm, người bệnh có thể vẫn nói được. Tuy nhiên, rất nhiều bệnh nhân đến viện khi đã quá muộn. Khối u đã lan rộng toàn bộ thanh quản, thậm chí cả vùng xung quanh. Các bác sĩ sẽ phải cắt bỏ toàn bộ thanh quản, người bệnh sẽ mất đi bộ phận phát âm và không thể nói được nữa, Tiến sĩ Hương cho biết.

Vì thế, các bác sĩ khuyến cáo, người bệnh bị khàn tiếng kéo dài trong 2 tuần mà không khỏi thì cần đi khám chuyên khoa tai mũi họng để được điều trị kịp thời. Cần điều trị sớm những viêm nhiễm về họng, tránh hút thuốc, uống rượu, giữ ấm vùng mũi, họng...
Xem chi tiết…

Triệu chứng của ung thư mũi xoang

Các khối u mũi và xoang là các khối u có thể lành tính hoặc ác tính (ung thư) xảy ra trong mũi xoang. Ung thư ở khoang mũi hoặc các khối u ở xoang rất hiếm gặp.

Ung thư thanh quản là loại ung thư hay gặp ở Việt Nam.Hầu hết các loại khối u mũi xoang (60 - 70%) xảy ra trong các xoang hàm trên, chỉ có khoảng 20 - 30% trong khoang mũi và từ 10 - 15% trong các xoang sàng. Ung thư trong các xoang bướm hoặc trán là cực kỳ hiếm, chỉ chiếm 5%.Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnhNam giới có nhiều khả năng bị ung thư xoang hơn phụ nữ. Độ tuổi phổ biến nhất để chẩn đoán tình trạng này là 50 và 60. Hút thuốc lá và khói thuốc lá là một yếu tố nguy cơ lớn nhất gây ung thư mũi xoang, cũng giống như các ung thư khác của đường hô hấp. Tiếp xúc với bụi từ da, gỗ hoặc vải dệt, cũng như hơi formaldehyde, dung môi, niken, crôm, cồn và radium làm tăng nguy cơ ung thư mũi xoang. Tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là tránh hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư mũi xoang.Các loại ung thư mũi xoang Một số loại ung thư khác nhau có thể xảy ra trong khoang mũi hoặc xoang, bao gồm:Ung thư tế bào vảy (phổ biến nhất, khoảng 70% ung thư xoang) xảy ra trong đường hô hấp. Ung thư tuyến (khoảng 10 - 20%) xảy ra ở lớp niêm mạc xoang. U lympho (khoảng 5% bệnh ung thư) gây ra bởi các tế bào trong hệ miễn dịch hay bạch huyết.Khối u ác tính (khoảng 3%) phát sinh từ các tế bào ở niêm mạc xoang có chứa sắc tố và rất ác tính. U nguyên bào thần kinh khứu giác phát triển từ các dây thần kinh, nơi thần kinh đi vào khoang mũi và cung cấp cảm giác về mùi.Nhiễm virut HPV có thể gây ra u nhú, giống như mụn cóc tăng trưởng trong mũi xoang, hầu hết là lành tính nhưng có khoảng 10% tiến triển thành ung thư.Dấu hiệu của bệnhMặc dù đôi khi ung thư mũi xoang không có triệu chứng, nhưng các triệu chứng kéo dài sau đây có thể là dấu hiệu ung thư, bao gồm: nghẹt mũi liên tục, đặc biệt là ở một bên; đau ở trán, mũi, má hoặc xung quanh mắt hoặc tai; chảy dịch qua cửa mũi sau xuống họng; chảy máu cam thường xuyên và liên tục; nhìn đôi hoặc nhìn mờ; mất cảm giác về mùi hoặc hương vị; đau hoặc tê ở mặt hoặc răng; sưng nề vùng mặt, vòm miệng, mũi hoặc cổ; chảy nước mắt; khó mở miệng; tái phát nhiễm khuẩn tai; khó khăn trong việc nghe.Khi thấy các dấu hiệu trên, người bệnh cần được khám và tư vấn bởi  bác sĩ tai mũi họng để xác định có phải ung thư mũi xoang hay không. Dưới sự hướng dẫn của nội soi, các bác sĩ có thể lấy một mảnh khối u (sinh thiết tế bào) để xác định bệnh. Nếu là ung thư, người bệnh cần được chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ để xác định độ lan rộng cũng như ảnh hưởng của khối u.Điều trị các khối u mũi và xoangNếu ung thư được tìm thấy trong khoang mũi xoang thì có thể được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Nếu khối u nhỏ thường có thể được lấy bỏ bằng cách sử dụng phẫu thuật nội soi. Nếu một khối u đã lan vào má, mắt, dây thần kinh hoặc các cấu trúc quan trọng khác thì cần phẫu thuật mở và tia xạ bổ sung sau mổ. Các bác sĩ phẫu thuật tại Khoa Ung bướu - Bệnh viện Tai mũi họng là các chuyên gia về điều trị phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở ung thư mũi xoang.Như vậy ung thư mũi xoang ít gặp, các triệu trứng không rõ ràng dễ nhầm với các triệu chứng bệnh mũi xoang thông thường. Người dân cần tránh những yếu tố nguy cơ cao gây ra bệnh và đến cơ sở khám chữa bệnh tai mũi họng khi có triệu chứng nghi ngờ để được phát hiện bệnh sớm và điều trị hiệu quả.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư xương

Giới thiệu
         Ung thư xương có nguồn gốc từ xương- ung thư xương nguyên phát hiếm gặp. Bệnh phát sinh nhiều ở trẻ em hơn người lớn. Phổ biến hơn, các tế bào ung thư lan tràn (di căn) tới xương từ các ung thư ở các vùng khác trong cơ thể.
         Những thể phổ biến nhất của ung thư xương nguyên phát là:
         • Sacôm xương, u xảy ra trước hết trong các mô xương đang phát triển
         • Sacôm sụn, phát sinh trong sụn
         • Sacôm Ewing (Ê- vin)
         Sacôm xương và sacôm Ewing thường xảy ra nhiều nhất ở trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn trẻ, tuổi từ 10 đến 25. Sacôm sụn phổ biến hơn ở những người lớn.
         Việc điều trị ung thư xương phụ thuộc vào typ ung thư xương, cũng như vị trí của nó, kích thước và giai đoạn bệnh.

Các dấu hiệu và triệu chứng
         Đau là triệu chứng phổ biến nhất của ung thư xương. Mặc dù ung thư xương có thể xảy ra ở bất kỳ xương nào trong số 206 xương của cơ thể, nó thường xảy ra ở các xương dài ở tay và chân.
         Những dấu hiệu và triệu chứng khác của xương bao gồm:
         • Xương yếu đi, đôi khi dẫn đến gãy xương
         • Sưng và yếu đi của khớp (với những u ở gần khớp)
         • Mệt mỏi
         • Sốt
         • Sút cân
         • Thiếu máu

Những nguyên nhân
         Ngoài bắt đầu từ xương, phần lớn các trường hợp các tế bào ung thư lan tràn (di căn) tới xương từ các ung thư ở các vùng khác của cơ thể. Những trường hợp này được gọi là ung thư xương thứ phát hay di căn. Điều này có nghĩa là ung thư có nguồn gốc từ một vị trí khác nhưng hiện đã di chuyển đến xương. Ví dụ, ung thư phổi thường lan tràn từ phổi đến xương.
         Nói chung, không ai biết chắc chắn cái gì gây nên hầu hết các ung thư xương nguyên phát. Những người lớn với bệnh Paget của xương, tổn thương có sự phát triển bất thường của những tế bào xương mới, có thể có nguy cơ mắc sacôm xương tăng.
         Trong một số trường hợp, các ung thư xương có thể có yếu tố di truyền, chẳng hạn như trong:
         • Hội chứng Li-Fraumeni. Hội chứng này có đặc điểm là tăng nguy cơ của các loại ung thư khác nhau, bao gồm sacôm xương, bệnh bạch cầu, ung thư vú, ung thư buồng trứng và các loại ung thư khác.
         • Hội chứng Rothmund-Thomson. Hội chứng này gây nên tầm vóc người thấp, những biến đổi của xương, phát ban và tăng nguy cơ ung thư xương.
         • U nguyên bào võng mạc di truyền. Những trẻ em với loại ung thư hiếm này của mắt có tăng nguy cơ sacôm xương.
         • Nhiều điểm lồi xương. Những trẻ em với bệnh di truyền này gây nên những chỗ lồi ở sụn để tạo thành tổn thương xương có tăng nguy cơ sacôm sụn.
         Xạ trị đôi khi kết hợp với ung thư xương. Phơi nhiễm với bức xạ từ tia X không gây hại. Tuy nhiên, những liều cao của tia xạ, chẳng hạn như xạ trị với các ung thư khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư xương, đặc biệt là nếu được xạ trị vào lúc tuổi trẻ. Như vậy, xạ trị trở nên càng phức tạp hơn, nó có thể dẫn đến những tác dụng phụ. Vì vậy, để làm giảm các tác dụng phụ của xạ trị, các bác sĩ hiện nay có thể điều hoà liều tia xạ và điều chỉnh đích tia vào u một cách chính xác hơn.
Khi nào cần đi khám bệnh?
         Hãy đi khám bệnh nếu bạn thấy có những dấu hiệu hoặc triệu chứng của ung thư xương, chẳng hạn như đau xương không cắt nghĩa được. Tuy nhiên, có đau xương không có nghĩa là bạn bị ung thư. Đau xương phổ biến hơn do tổn thương hoặc viêm khớp. Các u xương cũng thường không phải ung thư (lành tính). Tuy nhiên, chỉ có cách duy nhất xác định một u có phải ung thư hay không là bác sĩ xét nghiệm một mẫu mô (một mảnh u)

Sàng lọc và chẩn đoán
         Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị ung thư xương, họ sẽ hỏi tiền sử bệnh và tiến hành khám. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, chẳng hạn như chụp X quang, chụp cắt lớp vi tính CT, siêu âm và chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI, bác sĩ có thể thấy những biến đổi của xương và đánh giá tổn trhương xương. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu tiến hành xạ hình xương, một phương pháp trong đó bạn được tiêm một lượng nhỏ phóng xạ được gọi là chất đánh dấu (hay nguyên tử đánh dấu), nó có thể được phát hiện bằng một máy quay phim đặc biệt được sử dụng để tạo nên các hình ảnh u xương của bạn.
         Việc xác định một u có phải là ác tính hay không đòi hỏi phải lấy một mẫu mô (sinh thiết) từ u để xét nghiệm. Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị ung thư, hãy đến khám và xin ý kiến của một bác sĩ chuyên về ung thư xương trước khi sinh thiết được thực hiện.
         Các kỹ thuật lấy mẫu mô nghi ngờ ung thư xương bao gồm:
         • Sinh thiết kim. Bác sĩ sử dụng một kim nhỏ để lấy những mẫu mô nhỏ. Có hai loại sinh thiết kim: hút kim nhỏ và sinh thiết lõi. Sinh thiết lõi là sử dụng một kim hơi lớn hơn để lấy ra một lõi mô nhỏ, đặc.
         • Sinh thiết phẫu thuật. Bác sĩ rạch một đường trên da và lấy ra hoặc toàn bộ u (sinh thiết cắt bỏ) hoặc một phần của u (sinh thiết rạch). Trong một số trường hợp, bạn chỉ cần được gây tê tại chỗ. Với một u lớn hơn và ở sâu hơn, bạn cần phải được gây mê toàn thân. Điều quan trọng là một bác sĩ có kinh nghiệm điều trị sacôm thực hiện sinh thiết cắt bỏ.

Xếp độ và định giai đoạn
         Ngoài việc xác định là mô u có phải là ung thư không, xét nghiệm mô học có thể xác định mô u xâm nhập như thế nào (độ của u). Xét nghiệm tiếp theo, chẳng hạn như chụp X quang quét (nhấp nháy đồ) và xét nghiệm máu sẽ xác định ung thư đã lan tràn chưa và lan tràn xa đến đâu (giai đoạn của u).
         Những ung thư xương ở trẻ em, chẳng hạn như sacom xương và sacom Ewing thường được chia thành hai giai đoạn dựa trên u còn ở trong một phần của cơ thể (khư trú) hoặc đã lan tràn tới các phần khác (di căn).
         Thời gian sống sau điều trị dựa trên một số các yếu tố bao gồm typ ung thư, ung thư được phát hiện ở giai đoạn nào và u khu trú ở đâu. Nếu u rất nhỏ và khu trú, sống thêm 5 năm đạt tới gần 90%. Tuy nhiên, nếu ung thư bắt đầu lan tràn, sống sau điều trị trở nên rất khó khăn.

Những biến chứng
         Những biến chứng của ung thư xương có thể bao gồm xương yếu đi và gãy xương. Nếu ung thư lan tràn đến các cơ quan khác, những biến chứng bao gồm rối loạn chức năng của cơ quan bị tổn thương, chẳng hạn như hơi thở ngắn nếu ung thư lan đến phổi.
Điều trị
         Cũng như với các ung thư khác, điều trị ung thư xương phụ thuộc kích thước, typ, vị trí và giai đoạn của ung thư, bao gồm liệu ung thư đã lan tràn đến phổi và các phần khác của cơ thể chưa và tình trạng sức khoẻ chung của bạn.

Phẫu thuật
         Phẫu thuật là phương pháp điều trị phổ biến nhất với ung thư xương. Phẫu thuật đối với một ung thư đã lan tràn bao gồm lấy bỏ khối ung thư và một riềm mô lành xung quanh nó.
         Trước đây cắt cụt là phổ biến với ung thư xương ở tay hay ở chân. Ngày nay, những tiến bộ trong các kỹ thuật phẫu thuật và điểu trị hoá chất trước phẫu thuật (hoá trị tân bổ trợ) và sau phẫu thuật (hoá trị bổ trợ) và xạ trị làm cho phẫu thuật bảo tồn chi có thể được thực hiện trong nhiều trường hợp. Với sacom xương, phẫu thuật bảo tồn chi bao hàm việc thay thế xương ung thư bằng một thiết bị nhân tạo (lắp bộ phận giả) hoặc xương từ một phần khác của cơ thể hoặc của một người khác (ghép).
         Nếu sacom xương lan tràn, nó thường lan đến phổi. Điều trị có thể bao gồm lấy bỏ bằng phẫu thuật cả u của xương và ung thư ở phổi.
         Sacom Ewing có xu hướng di căn nhanh. Điều trị có thể bao gồm hoá trị với nhiều thuốc cũng như xạ trị và phẫu thuật loại bỏ u nguyên phát.

Điều trị tia xạ
         Điều trị tia xạ- cũng gọi là xạ trị hay điều trị tia X liên quan với việc điều trị ung thư bằng một chùm các tiểu phần năng lượng cao hoặc các sóng (bức xạ), chẳng hạn như các tia gamma hoặc tia X. Mặc dù tia xạ có thể ảnh hưởng đến các tế bào lành cũng như các tế bào ung thư, nó thường gây tác hại hơn nhiều với các tế bào ung thư bởi vì các tế bào ung thư phân chia nhanh hơn so với hầu hết các tế bào bình thường. Các tế bào dễ bị tổn thương khi chúng đang phân chia làm cho các tế bào ung thư nhậy cảm hơn với tia xạ so với các tế bào bình thường. Đồng thời các tế bào bình thường có thể phục hồi khỏi những tác động của tia xạ dễ dàng hơn những tế bào ung thư.
         Nhiều người bị ung thư có thể trải qua một số loại xạ trị. Bác sĩ có thể gợi ý việc sử dụng xạ trị vào những thời điểm khác nhau trong quá trình điều trị ung thư và vì những lý do khác nhau, chẳng hạn như trước phẫu thuật để làm co nhỏ khối ung thư hoặc sau phẫu thuật để làm dừng sự phát triển của bất kỳ các tế bào ung thư nào còn sót lại. Đồng thời, bác sĩ đôi khi sử dụng xạ trị để làm cho nhỏ khối u làm giảm chèn ép, giảm đau hoặc các triệu chứng khác do u có thể gây nên.

Điều trị hoá chất
         Điều trị hoá chất (còn gọi là hoá trị) là sử dụng các thuốc để giết các tế bào đang phân chia nhanh. Các tế bào này bao gồm các tế bào ung thư, chúng phân chia một cách liên tục để tạo thành nhiều tế bào hơn và các tế bào lành phân chia nhanh, chẳng hạn như các tế bào của tuỷ xương, đường tiêu hoá, hệ thống sinh dục và các nang lông. Các tế bào lành thường hồi phục trong một thời gian ngắn sau điều trị hoá chất hoàn thành- chẳng hạn như tóc sẽ bắt đầu mọc lại rất nhanh.
         Không giống như xạ trị, nó chỉ tác động trên một phần của cơ thể phơi nhiễm với tia xạ, hoá trị tác động trên toàn bộ cơ thể (một cách hệ thống). Mục đích của hoá trị là xử lý các tế bào có thể thoát khỏi nơi ung thư bắt đầu.
         Phụ thuộc vào loại ung thư bạn mắc phải và ung thư đã lan tràn xa chưa, bác sĩ sẽ sử dụng hoá trị để:
         • Loại trừ tất cả các tế bào ung thư khỏi cơ thể bạn, ngay cả khi ung thư đã lan tràn.
         • Kéo dài cuộc sống của bạn bằng cách kiểm soát sự phát triển và lan tràn của ung thư.
         • Làm giảm nhẹ các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bạn.
         Trong một số trường hợp, hoá trị là biện pháp duy nhất bạn cần. Phổ biến hơn, bác sĩ sử dụng nó kết hợp với các phương pháp điều trị khác, chẳng hạn như phẫu thuật và xạ trị để cải thiện kết quả.
 
Kỹ năng đối đầu với ung thư
         Một chẩn đoán ung thư, dù của bạn hay của con bạn là một thách thức lớn. Hãy nhớ rằng, không có gì bạn quan tâm lo lắng ngoài tiên lượng của bệnh. Có nhiều khả năng và chiến lược có thể làm cho việc đối phó với ung thư dễ dàng hơn. Dưới đây là một số gợi ý giúp cho việc đối phó với ung thư:
         • Học hỏi tất cả những gì có thể được. Tìm hiểu mọi điều bạn có thể hiểu về ung thư của bạn hoặc của con bạn- typ (loại) ung thư, giai đoạn, các nguy cơ liên quan, quan niệm về việc điều trị và những tác dụng phụ của điều trị. Bạn hiểu biết càng nhiều, bạn càng có thể tham gia vào việc quyết định điều trị nhiều hơn. Bạn có thể hỏi bác sĩ, tìm hiểu các thông tin trong thư viện và các nguồn Internet đáng tin cậy.
         • Hãy tích cực. Mặc dù bạn có thể cảm thấy mệt mỏi và chán nản, đừng để những người khác có những quyết định quan trọng cho bạn. Việc bạn có vai trò tích cực trong việc điều trị của bạn hay của con bạn là cực kỳ quan trọng.
         • Duy trì một mạng lưới ủng hộ vững mạnh. Có được một mạng lưới ủng hộ và một cách suy nghĩ tích cực có thể giúp bạn đối phó với những thách thức ung thư mang lại. Mặc dù bạn bè và gia đình là những người ủng hộ nhất, họ đôi khi có thể có những điều phiền hà (đau buồn) với bệnh tật của một người thân yêu. Trong trường hợp như vậy, sự quan tâm và thông cảm của một nhóm hỗ trợ hoặc của những người khác cũng đang phải đối phó với bệnh ung thư của họ hay của con cái họ có thể đặc biệt có lợi. Họ cũng có thể là nguồn thông tin thực tiễn cho bạn và gia đình bạn.
         • Duy trì niềm hy vọng. Mặc dù những niềm hy vọng của bạn có thể bị thay đổi qua việc chẩn đoán và điều trị ung thư, điều quan trọng là phải có hy vọng. Ví dụ, khi lần đầu tiên bạn nghe được chẩn đoán, bạn có thể hy vọng là có sự nhầm lẫn. Một khi bạn đã chấp nhận chẩn đoán, bạn sẽ hy vọng về một kết quả tốt của việc điều trị. Một cách duy trì hy vọng là xác lập những mục tiêu. Có những mục tiêu sẽ giúp bạn cảm thấy làm chủ được và tìm thấy được ý nghĩa của mục tiêu. Nhưng cũng không nên chọn những mục tiêu mà bạn không thể thực hiện được. Bạn không thể làm việc 40 giờ một tuần nhưng bạn có thể làm việc một phần thời gian. Thực ra nhiều người thấy rằng việc tiếp tục công việc và gắn bó với những hoạt động hàng ngày có thể có lợi.
         • Dành thời gian cho bản thân mình. ăn tốt, thư giãn tốt và có sự nghỉ ngơi đầy đủ có thể giúp bạn chiến đấu với sự căng thẳng và mệt mỏi do ung thư mang lại. Mặt khác, đồng thời cũng cần dành thời gian khi bạn cần nghỉ ngơi nhiều hơn và giới hạn những gì bạn đang làm. Nếu con bạn bị ung thư, một trong những điều quan trọng bạn có thể làm được là giữ gìn sức khoẻ của bản thân mình. Là người chăm sóc, bạn cần có sức khoẻ tốt và tránh xúc động để đáp ứng yêu cầu của con bạn.
         • Cần phải tích cực. Mắc bệnh ung thư không có nghĩa là bạn dừng những việc bạn ưa thích hoặc bình thường bạn vẫn làm. Thông thường, nếu bạn thấy đủ sức để làm một việc gì đó, bạn hãy cố gắng để làm việc đó. Điều quan trọng là giữ được mức hoạt động nhiều có thể được. Nếu con bạn bị ung thư, hãy duy trì cuộc sống của đứa trẻ ở mức bình thường có thể được.
         • Tìm kiếm sự liên hệ với một điều gì đó vượt ra ngoài bản thân bạn. Có được một niềm tin mạnh mẽ hoặc ý nghĩa của một điều gì đó lớn hơn cả chính bạn là yếu tố chìa khoá trong việc đối phó có hiệu quả với ung thư.
Xem chi tiết…

Triệu chứng của bệnh ung thư máu

Phần lớn những dấu hiệu ấy không phải là biểu hiện riêng của ung thư, bởi vậy bệnh nhân, thậm chí cả thầy thuốc thường ít để ý, vì cho rằng chúng chỉ là biểu hiện của những bệnh khác nhẹ hơn hoặc cũng không có gì đáng ngại.

Chỉ có khám lâm sàng cẩn thận và tuỳ trường hợp mà làm các xét nghiệm sinh học, X.quang, nội soi mới ảnh hưởng được chẩn đoán.

Dấu hiệu toàn thân

Những dấu hiệu này rất đa dạng, có thể đơn độc trong một thời gian dài mà không có biểu hiện đặc biệt nào của ung thư cả. Nếu chúng tồn tại lâu hoặc nặng lên thì sẽ là những dấu hiệu báo động.

Dấu hiệu toàn thân có thể là chán ăn (chủ yếu là sợ thịt), sụt cân nhiều, sốt dai dẳng không do nguyên nhân nhiễm khuẩn, điều trị bằng mọi cách cũng không khỏi, mệt mỏi kéo dài… Ba dấu hiệu báo động

Chảy máu: Chảy máu, dù ít hay nhiều, bao giờ cũng là một dấu hiệu báo động. Chảy máu do các mạch máu bì khối u xâm lấn hoặc do vỡ các mạch máu nằm giữa các mô ung thư. Bệnh nhân nhổ ra máu hoặc chảy máu mũi (máu cam) nếu bị ung thư miệng, họng, xoang, thực quản.

Nếu bị ung thư phổi – phế quản thì khạc đờm có máu. Ðái ra máu là do ung thư­ thận, bàng quang hoặc tuyến tiền liệt. ở bệnh nhân nữ, chảy máu âm đạo ngoài thời gian hành kinh, hoặc khi giao hợp, hoặc sau khi đã mãn kinh có thể do ung thư dạ con hoặc ung thư âm đạo. Ðại tiện ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư­ đại tràng. Nôn ra máu thường do ung thư thực quản hoặc ung thư dạ dày…

- Ðau: Ðau cũng là một dấu hiệu báo động quan trọng của ung thư. Ðó là loại đau cố định ở một chỗ, đau liên tục ngày càng nặng, dùng thuốc giảm đau không đỡ, làm cho bệnh nhân mất ngủ. Ðau đầu mạn tính lúc đầu có thể là dấu hiệu duy nhất báo hiệu ung thư não. Ðau bụng dai dẳng hoặc đau thành cơn có thể là những dấu hiệu báo động của ung thư một cơ quan sâu, ví dụ như đại tràng.

- Nhiễm khuẩn: Mọi trường hợp nhiễm khuẩn lặp đi lặp lại và không khỏi khi dùng kháng sinh đều có thể là dấu hiệu báo động của ung thư. Ðó là vì bệnh này đã tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và gây nhiễm khuẩn bằng cách làm suy yếu hệ thống miễn dịch, làm hẹp các cơ quan rỗng (phế quản hoặc bộ máy tiết niệu chẳng hạn), làm loét các niêm mạc miệng, họng hoặc cơ quan sinh dục, phá hủy các mô.

Những dấu hiệu báo động khác

- Viêm tĩnh mạch: Viêm tĩnh mạch (hình thành cục máu đông trong lòng tĩnh mạch) thường là tĩnh mạch các chi dưới, đôi khi cũng là dấu hiệu đầu tiên của ung thư. Ðấy là vì khối u trong ổ bụng hoặc trong khung chậu đã chèn ép tĩnh mạch gây viêm tĩnh mạch và các mô ung thư tiết ra một số chất tạo nên những cục máu đông.

- Những dấu hiệu sờ thấy hoặc nhìn thấy: Một số dấu hiệu báo động có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy được. Nếu sờ thấy một cục nhỏ hoặc một vùng cứng bất thường ở da, cơ, vú hoặc tinh hoàn mà những tổn thương vùng này lại tồn tại lâu hoặc to lên đều đặn thì dù chúng có đau hay không cũng cần phải đi khám bệnh ngay.

Da nổi gồ lên không đều, bị loét lâu không liền và lan rộng cũng là dấu hiệu báo động của ung thư da. Cuối cùng, nếu thấy hột mụn cơm (mụn cóc) hoặc nốt ruồi dày lên, thay đổi màu sắc hoặc chảy máu cũng phải đến gặp thầy thuốc ngay.

Cơ quan hay bộ máy nào bị ung thư?

Dựa vào những dấu hiệu báo động, có thể biết được khá chính xác cơ quan hoặc bộ máy nào bị ung thư.

- Miệng, họng, xoang và thực quản: Dấu hiệu báo động là nhai thấy vướng hoặc đau lan lên tai, khản giọng kéo dài (ung thư­ miệng hoặc ung thư họng); đau, nuốt nghẹn, nôn (ung thư thực quản)…

- Bộ máy hô hấp: Khó thở tăng dần hoặc đột ngột, lúc đầu là khó thở khi gắng sức, vế sau xuất hiện cả khi nghỉ ngơi thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư phổi. Ho dai dẳng ở người nghiện thuốc lá cũng cần đ­ược theo dõi chặt chẽ.

- Bộ máy tiêu hoá: Dấu hiệu đầu tiên của ung thư bộ máy tiêu hoá là người bệnh có cảm giác nặng ở thượng vị (phần trên của bụng) và táo bón. Mót đại tiện giả, cảm giác nặng và đau ở trực tràng gợi nghĩ đến ung thư trực tràng. Vàng da tiến triển nhanh gợi ý ung thư đường mật, ung thư gan.

- Bộ máy tiết niệu và tuyến tiền liệt: Ðái khó, bí đái là những dấu hiệu đầu tiên của ung thư cơ quan tiết niệu hoặc ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới.

- Hạch bạch huyết: Một hoặc nhiều hạch ở cổ, hạch nách hoặc hạch bẹn to lên có thể là triệu chứng đầu tiên của ung thư sâu hoặc ung thư hạch.

- Hệ thần kinh trung ương: Ðau đầu mạn tính, liệt, rối loạn thị giác, thay đổi tính tình, nôn vào buổi sáng đôi khi là những dấu hiệu báo động của ung thư­ não hoặc màng não.
Xem chi tiết…

Triệu chứng bệnh ung thư tinh hoàn

Tuy rất hiếm gặp, nhưng những XY nên biết điều này để nhanh chóng nhận ra những nguy cơ bản thân có dễ bị ung thư tinh hoàn hay không nhé!

Ung thư "trái bóng" là gì?

Bạn biết đấy, cơ thể được tạo thành từ nhiều loại tế bào. Thông thường, các tế bào phát triển, phân chia và sau đó chết đi.

Đôi khi, các tế bào đột biến, bắt đầu phát triển và phân chia nhanh hơn tế bào bình thường. Thay vì chết đi, những cụm tế bào bất thường sẽ tạo thành khối u. Những khối u ung thư (còn gọi là khối u ác tính) có thể xâm nhập và tiêu diệt các mô khỏe mạnh của cơ thể.

Từ những khối u, các tế bào ung thư có thể di căn và hình thành các khối u mới trong các bộ phận khác của cơ thể. Ngược lại, những khối u không phải ung thư (còn gọi là khối u lành tính) không lan ra các phần khác của cơ thể.

Ung thư tinh hoàn thường bắt đầu ở một hoặc cả hai tinh hoàn. Các tinh hoàn nằm trong bìu và được treo lủng lẳng bên trong bìu.

Kích thích tố và tinh trùng được sản xuất trong tinh hoàn. Một tinh hoàn trưởng thành và phát triển bình thường khi có kích thước tròn, mịn màng.

Những XY nào có nguy cơ bị ung thư "trái bóng"?

Ung thư tinh hoàn rất hiếm gặp, nhưng nó là loại ung thư phổ biến nhất ở những XY trẻ tuổi (từ 15 đến 34 tuổi). Nếu bạn là một teenboys, bạn có nhiều khả năng bị ung thư tinh hoàn nếu:

- Có cha hoặc anh, em trai đã bị ung thư tinh hoàn.

- Có một tinh hoàn mà không đi vào trong bìu. Điều này vẫn có nguy cơ xảy ra ngay cả khi phẫu thuật đã được thực hiện để loại bỏ tinh hoàn nhằm đưa nó trở xuống vị trí.

- Có tinh hoàn nhỏ hay tinh hoàn không có hình dạng bình thường.

- XY có hội chứng Klinefelter (là tình trạng không phân li nhiễm sắc thể ở XY, hội chứng này thường do di truyền).

- Bị viêm tinh hoàn do bị quai bị trong tuổi dậy thì.

Một số dấu hiệu của ung thư "trái bóng"?

- Tinh hoàn to và rắn (đây là dấu hiệu phổ biến nhất)

- Có thể đau nhức không rõ nguyên nhân trong bìu

- Một bên bìu bị sưng hoặc cảm thấy nặng

- Vùng ngực lớn hơn và hơi đau

Ung thư tinh hoàn vẫn có thể được điều trị nếu phát hiện sớm. Bác sĩ của bạn có thể kiểm tra tinh hoàn khi khám nam khoa. Do dó, bạn nên đi khám bác sĩ ngay nếu thấy bất cứ điều gì bất thường, như tinh hoàn bị sưng hoặc có cục u.

Làm thế nào để XY tự kiểm tra "trái bóng"?

Thời gian tốt nhất để các XY tiến hành kiểm tra tinh hoàn là trong hoặc ngay sau khi tắm. Nước ấm giúp thư giãn làn da bìu của bạn và làm cho việc kiểm tra tinh hoàn dễ dàng hơn.

- Kiểm tra tinh hoàn của bạn bằng cách sử dụng 1 hoặc cả hai tay.

- Kẹp bìu của bạn với một tay để xem có sự thay đổi nào không.

- Giữ tinh hoàn với ngón tay cái của bạn

- Lăn nhẹ tinh hoàn giữa ngón cái và ngón tay

- Cảm nhận xem có bất kỳ cục u khác thường ở bên trong hoặc trên mặt của tinh hoàn. Lặp lại với bên tinh hoàn khác.

Nếu 1 tinh hoàn nhỉnh hơn một chút thì đó là bình thường nhé. Các tinh hoàn thường mịn màng và tròn trịa. Nếu bạn cảm thấy da gà hay có cục bất thường, hãy đến thăm bác sĩ ngay.

Làm thế nào điều trị ung thư "trái bóng"?

Nếu bạn bị ung thư tinh hoàn, bác sĩ có thể sẽ cho bạn biết tình trạng ung thư như thế nào. Từ đó bác sĩ có thể yêu cầu bạn phải phẫu thuật hay đề nghị hóa trị nếu bệnh ung thư nghiêm trọng, hoặc ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể.
Xem chi tiết…

Những triệu chứng “gợi ý” bệnh ung thư ở trẻ em

Mặc dù các triệu chứng và biểu hiện của ung thư tùy thuộc vào dạng bệnh, vị trí trong cơ thể nhưng 85% trẻ ung thư có các dấu hiệu “gợi ý” bệnh.

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào có thể gặp ở mọi cơ quan trong cơ thể, xảy ra ở mọi lứa tuổi kể cả trẻ mới sinh (do đột biến gen từ lúc trong bào thai). Trên thế giới, mỗi năm có thêm 160.000 trẻ bị ung thư và khoảng 90.000 trẻ chết do ung thư. Ở các nước phát triển, bệnh ung thư là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ em dưới 14 tuổi.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia ung bướu, nếu ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm, trẻ nhỏ sẽ có nhiều cơ hội được cứu sống.

Kết quả nghiên cứu trên 5 tỉnh thành tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ mắc ung thư trẻ em chiếm khoảng 1,63% trong tổng số các ung thư. Mô hình bệnh ung thư trẻ em ở nước ta cũng có chiều hướng giống với các nước trên thế giới.

Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u, ở giai đoạn sớm u hình thành chưa rõ. Trong quá trình phát triển khối u, các tế bào ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới.

Nhiều dạng ung thư ở trẻ em khác với ung thư ở người lớn về điều trị và kết quả sống thêm. Hiểu biết về bệnh ung thư ở trẻ em là điều cần thiết để giúp cho việc phát hiện bệnh sớm. Ở các nước phát triển, 3/4 số trẻ được chữa khỏi và tỷ lệ sống thêm không ngừng được nâng cao nhờ phát hiện sớm và điều trị đúng. Trong khi đó, tại các nước đang phát triển - trong đó có VN, hơn 50% trẻ ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn muộn không được điều trị đầy đủ, kết quả sống thêm còn thấp.

Vì vậy, cha mẹ cần nâng cao hiểu biết về ung thư trẻ em nhất là các dấu hiệu sớm thường gặp để có thể phát hiện sớm bệnh và điều trị có kết quả tốt. Các dấu hiệu sớm thường gặp là:

- Khối u hoặc sưng nề bất thường ở ổ bụng

- Sốt kéo dài không lý giải được

- Mệt mỏi, xanh xao, sút cân nhanh

- Dễ xuất hiện vết bầm tím và chảy máu không rõ nguyên nhân

- Đau kéo dài không lý giải được, đau đầu kèm theo nôn.

- Thay đổi đột ngột khả năng thăng bằng hoặc thay đổi đột ngột hành vi

- Đầu bị sưng nề

- Xuất hiện vệt sáng trắng ở mắt

Nếu trẻ có một trong những triệu chứng trên trong vài ngày hoặc vài tuần cần phải đưa đi khám bệnh ngay để chẩn đoán bệnh kịp thời.
Xem chi tiết…

Chớ bỏ qua triệu chứng ung thư vùng đầu cổ

Ung thư vùng đầu cổ có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm với một số phương pháp điều trị.

Căn bệnh có thể chỉ bắt đầu bằng đau họng dai dẳng, hạch không lặn, khó nuốt hay giọng nói thay đổi. Trước khi bệnh nhân có thể nhận ra thì bệnh đã chuyển sang ung thư vùng đầu cổ.

Ung thư vùng đầu cổ thuộc nhóm ung thư xuất phát từ vùng mũi, lưỡi, má, họng, amiđan, thanh quản, tuyến nước bọt, và tuyến giáp. Rất may là triệu chứng của ung thư vùng đầu cổ thường được phát hiện sớm và có thể chữa khỏi.

1. Đối mặt với ung thư vùng đầu cổ

Hút thuốc là một trong những nguyên nhân phổ biến. Hút thuốc gây ung thư vùng đầu cổ như ung thư lưỡi, amiđan, và họng tuy nhiên nó chủ yếu liên quan tới thanh quản và phổi.

Khi đem so sánh thấy ung thư tuyến nước bọt là một trong những loại ung thư hiếm xảy ra. Tuyến nước bọt sản sinh nước bọt, một dạng dịch chứa nhiều nước, men phân hủy thức ăn tinh bột và các chất kháng khuẩn nhằm ngăn sự phát triển của các sinh vật có hại gây bệnh răng miệng. Nước bọt còn có tác dụng giữ ẩm miệng và họng làm cho việc nói và nuốt dễ dàng.

Bác sĩ Goh Yau Hong, chuyên khoa ngoại tai mũi họng và đầu cổ tại bệnh viện Mount Elizabeth cho biết 90% các khối u tuyến nước bọt lành tính, có nghĩa là nó không di căn từ tuyến nước bọt sang các bộ phận khác của cơ thể và hầu như không bao giờ đe dọa tính mạng của người bệnh. Tuy nhiên bác sĩ cũng chỉ ra rằng nó có thể chuyển thành ung thư nếu không loại bỏ hoàn toàn hoặc tái phát nhiều lần. Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn là lựa chọn điều trị tối ưu.

Bác sĩ Goh cũng cho biết một vài khối u lành tính vùng đầu cổ như u tuyến nước bọt mang tai sẽ chuyển sang ung thư. Do đó bệnh nhân phải theo dõi cẩn thận nhằm kiểm soát bệnh mặc dù kết quả giải phẫu bệnh phẩm là lành tính.

2. Loại ung thư vùng đầu cổ và các triệu chứng sớm


- Ung thư mũi

• Xoang bị tắc

• Viên xoang mãn tính và không đáp ứng điều trị kháng sinh

• Chảy máu mũi

• Đau đầu thường xuyên

• Sưng hoặc bệnh về mắt, đau hàm trên, hoặc vấn đề răng giả

- Ung thư thanh quản

• Giọng nói thay đổi

• Nuốt khó

- Ung thư lưỡi, má, họng, amiđan

• Vết loét không liền trong vài tuần

• Chảy máu ở vết loét

• Đờm có máu

• Đau tai dai dẳng

• Nuốt khó

- Ung thư tuyến nước bọt

• Bướu hoặc sưng trên mặt, cổ hoặc miệng

• Tê vùng mặt

• Yếu cơ một bên mặt

• Đau dai dẳng vùng tuyến nước bọt

Bướu cổ đối với ung thư vùng đầu cổ thường cho biết ung thư di căn tới hạch. Đó cũng có thể là ung thư hạch nguyên phát khi cổ bị sưng.

3. Tìm nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Bác sĩ Goh bày tỏ mối lo ngại rằng bệnh nhân bị ung thư thường đi khám ở giai đoạn muộn. Trên thực tế 70% bệnh nhân mới phát hiện ung thư mũi đã ở giai đoạn 3 hay 4. Phát hiện sớm vẫn là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng sống sót của bệnh nhân.

Các cơ quan vùng đầu cổ chuyên trách các chức năng quan trọng như khứu giác, phát ngôn, nuốt, vị giác, thị giác và khứu giác. Các chức năng này đồng hành với cấu tạo phức tạp của vùng đầu cổ, do đó việc điều trị cũng khác do nó ảnh hưởng đến tiến trình bệnh.

Để xác định nguyên nhân gây ra các triệu chứng, bác sĩ sẽ đánh giá bệnh sử của bệnh nhân, khám lâm sàng, và làm các xét nghiệm. Các xét nghiệm có thể khác nhau tùy thuộc vào các triệu chứng của bệnh nhân.

Chìa khóa đối với việc chẩn đoán ung thư là sinh thiết đại diện chính xác. Hầu hết bệnh nhân ung thư có bướu ở cổ thì bác sĩ sẽ yêu cầu lấy mô để làm sinh thiết.

Việc chụp kiểm tra vùng đầu cổ cũng cần thiết nhằm đánh giá mức độ lan rộng của tế bào ung thư và trong một số trường hợp kết hợp chẩn đoán. Cần tiến hành chụp kiểm tra như chụp cắt lớp, cộng hưởng từ hoặc PET-CT để lên kế hoạch điều trị cũng như đánh giá kết quả điều trị và theo dõi tái phát. Thông thường ung thư vùng đầu cổ đã di căn hạch (thường xuất hiện bướu ở cổ) cho thấy ung thư ở giai đoạn muộn.

Nhiều bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ hiện nay có thể được chữa khỏi nếu phát hiện sớm với các phương pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.

Theo bác sĩ Tan, phẫu thuật là phương pháp điều trị chính đối với ung thư vùng đầu cổ đặc biệt với ung thư phát hiện sớm như tuyến giáp và tuyến nước bọt. Ung thư lưỡi, amiđan, họng và thanh quản thường phải kết hợp 3 phương pháp gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Trong khi ung thư mũi thường điều trị chủ yếu bằng xạ trị và hóa trị.

Do việc điều trị có thể ảnh hưởng tới ăn uống, phát âm và thậm trí thở, bệnh nhân có thể cần phục hồi chức năng.

Bác sĩ Tan nhấn mạnh tầm quan trọng của chẩn đoán sớm, 'Điều quan trọng là không được bỏ qua các triệu chứng ban đầu. Kết quả điều trị phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn bệnh khi chẩn đoán'.

4. Bỏ qua bướu có thể mất mạng

Bướu vùng cổ, khối phát triển trong miệng, giọng nói thay đổi và khó nuốt là một vài dấu hiệu phổ biến của ung thư vùng đầu cổ. Nếu bạn cho rằng bạn có các dấu hiệu cảnh báo ung thư vùng đầu cổ thì hãy đi gặp bác sĩ. Phát hiện và nhận biết các dấu hiệu sớm có thể cứu tính mạng của bạn.
Xem chi tiết…

Triệu chứng bất thường của bệnh ung thư

Chảy máu bất thường, giảm cân nhanh chóng, đau không rõ nguyên nhân… là một trong những dấu hiệu của ung thư.

Ung thư tuyến tiền liệt có thể gây ra hiện tượng tiểu quá nhiều hoặc bí tiểu

   1. Giảm cân nhanh chóng (dù không ăn kiêng), đầy hơi, khó chịu, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy nhiều lần hoặc táo bón là những triệu chứng dễ nhận biết của bệnh ung thư phổi, dạy dày, thận và ruột già. Nếu kèm theo cảm giác mệt mỏi thì đó có thể là dấu hiệu của sự mất máu hoặc thiếu các nhân tố tạo máu.
   2. Đau không rõ nguyên nhân, đau bụng kéo dài là triệu chứng của ung thư ruột già. Đau cột sống dưới có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư thận, đau ở ngực có thể do ung thư phổi gây nên. Khi ung thư di căn thường gây đau nhức xương.
   3. Ho ra máu, khan giọng kéo dài trên 3 tuần, ho dai dẳng hoặc khác thường có thể do ung thư phổi và ung thư thanh quản gây nên.
   4. Đổi màu nốt ruồi, mụn, da lở loét và ngứa ngáy, lở loét tại các vết thương mở , vết bỏng …đều là những triệu chứng của bệnh ung thư da.
   5. Ung thư tuyến tiền liệt có thể gây ra hiện tượng tiểu quá nhiều hoặc bí tiểu, tiểu buốt, chậm, lượng nước tiểu ít, ra chậm kèm theo đó là đau lưng.
   6. Đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn, “nhìn gà hóa cuốc”, rối loạn tâm thần ,nghe không rõ… là những biểu hiện thường thấy của bệnh ung thư não.
   7. Ung thư cổ họng, thanh quản, thực quản và dạ dày có thể khiến bệnh nhân cảm thấy khó nuốt thức ăn, nước uống.
   8. Cảm giác đầy ở thượng vị, đau bụng và rối loạn tiêu hóa có thể do ung thư dạ dày và những bệnh ung thư khác liên quan tới hệ thống tiêu hóa và ung thư buồng trứng.
   9. Máu lẫn trong phân, kèm theo tiêu chảy hoặc táo bón, trong phân có dịch nhầy là những triệu chứng của bệnh ung thư hệ thống tiêu hóa, đặc biệt là ung thư ruột già và ung thư trực tràng.
  10. Máu lẫn trong nước tiểu (mà không mắc các triệu chứng của bệnh viêm nhiễm đường tiểu), chứng khó tiểu cũng có thể là triệu chứng đi kèm với bệnh ung thư đường tiểu
  11. Chảy máu ở bộ phận sinh dục,dịch âm đạo chuyển sang màu hồng hoặc đỏ đậm, đau vùng hạ vị và chi dưới là những dấu hiệu của ung thư âm đạo, tử cung và cổ tử cung.
  12. Các vết loét mãn tính trên da và trong niêm mạc miệng, môi, bộ phận sinh dục, hay xuất hiện một số dấu hiệu đặc biệt như sự phân bổ bất thường của các sắc tố da, đường mờ phân cách giữa các vết và vùng da khỏe mạnh, chảy máu và rỉ máu
  13. Khối u ở ngực (khoảng 15% – 25% có thể khó nhận thấy), núm vú co rút, các núm vú không cân xứng, núm vú thay đổi kích thước hoặc hình dạng, núm vú và vùng xung quanh có dấu hiệu sưng,lở loét, các tuyến bạch huyết ở nách sưng to, vùng da ngực căng lên, các mạch máu ở vùng da ngực nổi rõ, sưng vai…thường là triệu chứng của bệnh ung thư vú.
  14. Sốt, mệt mỏi, đau xương và khớp, có biểu hiện thiếu máu hoặc chảy máu, có khối u có nhận thấy trong khoang bụng, là hậu quả của sự phình to lá lách (có thể được phát hiện bằng việc kiểm tra đường ruột)
  15. Bệnh nhân đau và cảm thấy bị đè nặng ở vùng phía trên bên phải dạ dày, mệt mỏi, biếng ăn. Giai đoạn sau của bệnh, bệnh nhân sẽ thấy xuất hiện khối u to ở vùng phía trên bên phải của dạ dày. Bên cạnh đó, dấu hiệu vàng da và chảy máu có thể báo hiệu cơ thể của bạn đã mắc phải bệnh ung thư gan.
Xem chi tiết…

Triệu chứng ung thư da

Những miếng vảy nhỏ xuất hiện do da tiếp xúc với quá nhiều ánh nắng mặt trời, thường xuất hiện trên da vùng trán, cổ, hai tay, hoặc ở bất kỳ chỗ nào khác. Chúng có thể là sự khởi đầu của ung thư da.

Da chai cứng quang hóa thường xuất hiện ở người ngoài 40 tuổi, nhưng ngày càng nhiều người trẻ tuổi hơn mắc phải. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dừng được quá trình đóng vảy các tế bào ung thư.

Các dấu hiệu báo động Môi khô nứt nẻ:

Dấu hiệu tiền ung thư thường xuất hiện trên môi dưới, môi khô, đóng vảy và nứt nẻ. Dấu hiệu khác ít phổ biến hơn gồm môi sưng phồng, đường nét giữa môi và da không còn rõ.

Sừng trên da:

Xuất hiện sừng trên da dạng phễu phát triển từ vết đỏ ở da. Đây là chất sừng cứng tương tự như loại chất protein tạo nên móng tay, móng chân.

Tổn thương ung thư trên da

Kích cỡ và hình dạng của mảng sừng trên da này có thể rất đa dạng, nhưng hầu hết cỡ khoảng vài milimet. Các ung thư biểu mô đóng vảy thường được tìm thấy. Nó thường xuất hiện trên da những người lớn tuổi do quá trình tiếp xúc với mặt trời quá nhiều.

Nốt ruồi bất thường:

Nốt ruồi bắt đầu phát triển trên da. Một vài nốt có thể là khởi đầu của bệnh ung thư, những nốt ruồi bất thường và hiếm có khả năng phát triển thành khối u ác tính theo thời gian. Nốt ruồi thường thì tròn hoặc hình ovan và thường không quá lớn. Nhưng nó sẽ trở nên bất thường nếu nó phát triển dần lên trong nhiều năm đối với cả những người đã lớn tuổi.

Không phải cứ nốt ruồi bất thường là ung thư, mà chúng có khả năng trở thành ung thư. Có thể thấy ở các bộ phận trên cơ thể, cả những vùng da thường xuyên tiếp xúc với mặt trời hoặc vùng da được bảo vệ thường xuyên. Những nốt ruồi bất thường thường lớn, trên 1/4 inch và hình dạng lạ với vết lõm hoặc đường biên mờ với da, có thể thẳng hoặc lồi, mịn hoặc gồ ghề. Màu sắc có thể là hồng, đỏ, rám hoặc nâu.

Những điều cần lưu ý về nốt ruồi


Hầu hết nốt ruồi trên cơ thể trông tương tự như mọi nốt ruồi bình thường khác. Nếu có một nốt ruồi hoặc tàn nhang trông khác so với những cái còn lại như bán kính lớn hơn hoặc có dấu hiệu của khối u ác tính thì nên gặp bác sĩ chuyên khoa da liễu. Nó có thể là dấu hiệu của ung thư. Dấu hiệu là một trong những đặc tính quan trọng để xác định nốt ruồi bất thường của da bạn, do đó bạn nên lưu ý với 5 dấu hiệu sau:

1. Tính đối xứng:

Khi nốt ruồi hoặc tàn nhang của bạn có hình dạng không đối xứng trong khi bình thường chúng thường cân xứng thì bạn nên kiểm tra lại bằng cách vẽ một đường tưởng tượng chia dọc nốt đó ra và đối chiều xem nửa còn lại có tương đồng. Nếu không, bạn nên tìm gặp các chuyên gia da liễu.

2. Đường viền:

Nếu như đường viền ngoài của nốt ruồi bị mờ, không thấy rõ nét đường biên giữa da và nốt ruồi, trông khác thường với các nốt ruồi thường, bạn cần phải đi khám. Các thương tổn của khối u ác tính thường là nguyên nhân làm mờ các đường biên của nốt ruồi lạ trên da.

3. Màu sắc:

Nốt ruồi không có màu giống với những nốt ruồi khác trên da bạn, thì dù là màu sắc gì: nâu, đen, xanh đậm, trắng hay đỏ đều đáng nghi ngờ. Nốt ruồi bình thường sẽ có một màu sắc nhất định, tương tự và đồng đều nhau trên da. Nhưng nếu trên da bạn có nhiều nốt ruồi khác màu, khác hình dạng, khác màu: chỗ màu đậm, chỗ màu nhạt, bạn dứt khoát phải đi gặp bác sĩ.

4. Đường kính:

Một điểm đáng ngờ khi quan sát các nốt lạ trên da bạn là đường kính của chúng lớn hơn hẳn các nốt ruồi thông thường. Nốt ruồi thường chỉ nhỏ hơn hoặc bằng khoảng 6mm.

5. Độ lồi:

Nếu nốt lạ nổi lồi trên da bạn rõ nét, hãy gặp bác sĩ để kiểm tra xem có gì bất thường không. Bởi các khối u ác tính thường phát triển nhanh chóng về kích cỡ hoặc độ lớn. Một nốt ruồi cứ lớn dần, đổi màu, gây ngứa ngáy, khó chịu hoặc chảy máu thực sự là dấu hiệu đáng báo động.

Hãy kiểm tra da bạn sau khi tắm, lúc da còn ẩm ướt. Những vùng ung thư da thường xuất hiện ở lưng đối với đàn ông và chân đối với phụ nữ. Nhưng hãy cẩn thận kiểm tra mọi vùng da trên cơ thể bạn, xem xét các nốt ruồi, tàn nhang xem liệu có gì bất thường không, và nên kiểm tra mỗi tháng một lần. Chú ý cả những vùng da ít để ý đến như giữa các ngón chân, ngón tay, vùng háng, lòng bàn chân, phía da sau đầu gối. Kiểm tra cả da đầu và da cổ. Có thể dùng gương hoặc nhờ người quen xem giúp những vùng da bạn khó nhìn thấy. Hãy chú trọng đến các nốt lạ mới trên da, có thể chụp ảnh nốt đó lại theo thời gian và so sánh sự biến đổi. Cần theo dõi các nốt lạ, nhất là đối với tuổi vị thành niên, phụ nữ mang thai, hay người đang bước vào giai đoạn mãn kinh, bởi đó là khi hormone có nhiều thay đổi.

Nếu như các nốt trên da bạn có 1 trong 5 biểu hiện đã nhắc đến ở trên, hoặc nốt của bạn có xu hướng ngứa ngáy, đóng vảy, rỉ nước, không liền hoặc sưng phồng, đỏ tấy. Lúc đó bạn cần phải gặp bác sĩ ngay lập tức. Các bác sĩ sẽ trích mẫu từ nốt lạ của bạn và làm xét nghiệm kiểm tra. Nếu kết quả là ung thư, toàn bộ nốt lạ và vùng da quanh đó sẽ được cắt bỏ và khâu lại. Sau đó bạn cần một thời gian điều trị nhất định.

Vài nét về ung thư da

Ung thư da không bị u ác tính bao gồm: ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào cơ bản.

Cả 2 loại này đều phổ biến và có thể chữa được nếu phát hiện và điều trị kịp thời. Người đã bị mắc ung thư da một lần nên cẩn trọng bởi rất dễ bị mắc lại, do đó nên kiểm tra định kỳ ít nhất 1 lần/năm.

U ác tính không phổ biến so với các loại bệnh ung thư da khác, nhưng nó đặc biệt nguy hiểm chết người. Dấu hiệu có thể nhận thấy ở u ác tính là sự thay đổi các nốt và vùng sắc tố trên da, như: thay đổi màu, bất cân xứng hình dạng, ngứa, chảy máu…

Ung thư biểu mô tế bào vảy là một dạng ung thư da không bị khối u ác tính. Nó xuất hiện với các nốt u đỏ, lớn thì đóng vảy, chảy máu hoặc phát triển thành mảng vảy, gây đau nhức mãi không lành. Vị trí các u này thường là trên mũi, trán, tai, môi dưới, cánh tay và một số vùng da thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Bệnh này có thể chữa trị nếu phát hiện sớm. Nếu để lâu, việc điều trị phụ thuộc nhiều vào giai đoạn của bệnh.

Ung thư biểu bì tế bào vảy dạng ung thư da mà lây lan khắp bề mặt da, thậm chí có thể lan vào bên trong cơ thể. Triệu chứng dễ thấy của bệnh là các mảng màu đỏ, đóng vảy trên da, khiến nhiều người chủ quan dễ nhầm là phát ban, chàm, nốt sùi hay vẩy nến.

Ung thư tế bào cơ bản xuất hiện phổ biến nhất trong các loại ung thư da và cũng là loại dễ điều trị nhất. Bởi ung thư tế bào cơ bản lan chậm, hầu như chỉ xảy ra với người lớn. Khối u của bệnh ung thư này là u màu trắng đục như sáp, thường ở những nơi như tai, cổ, da mặt. U có thể là mảng nâu hoặc đỏ tươi, đóng vảy, phẳng ở lưng và ngực, hoặc hiếm gặp hơn là các vết sẹo trắng, trông như sáp.

Một số loại bệnh ung thư da ít gặp khác như Kaposi xacôm – thường thấy ở những người có hệ miễn dịch kém; ung thư biểu mô tế bào Merkel – xuất hiện ở những nơi da thường tiếp xúc với ánh mặt trời như đầu, cổ, tay, chân… nhưng sau đó lan rộng ra các vùng da khác của cơ thể, ung thư biểu mô tuyến bã nhờn – một bệnh ung thư khá nguy hiểm có nguyên nhân sâu xa từ các tuyến dầu trên da.

Cách phòng chống

Ánh nắng mặt trời là nguyên nhân lớn nhất gây ung thư da. Phơi nắng dưới môi trường tiềm ẩn nguy hiểm, sự bức xạ, thậm chí tính di truyền cũng đóng vai trò quan trọng. Theo nghiên cứu, những trường hợp sau dễ có nguy cơ mắc các bệnh ung thư da, bao gồm:

- Người da trắng và mắt sáng màu.

- Người có rất nhiều nốt ruồi hình dạng bất thường và kích cỡ lớn.

- Người trong gia đình có tiền sử mắc ung thư da.

- Người từng cháy nắng.

- Người sống ở môi trường nhiệt độ cao và ánh nắng mặt trời gay gắt quanh năm.

- Người từng phải điều trị bức xạ. Để hạn chế ung thư da bạn cần hạn chế tia cực tím tiếp xúc với da của bạn, đặc biệt từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, khi mà ánh nắng mặt trời đang mạnh và gay gắt nhất. Khi ra ngoài hãy dùng đến các đồ bảo vệ da như áo, mũ và kính chống nắng. Đừng quên đôi môi và đôi tai của bạn! Luôn chú ý chăm sóc da và lưu ý đến những biến đổi mới trên da bạn để có thể đến gặp bác sĩ da liễu kịp thời.
Xem chi tiết…

Những triệu chứng ung thư phụ nữ cần biết

Phụ nữ cần phải đặc biệt nhận thức được bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện nào của cơ thể. Nhiều loại triệu chứng của ung thư phụ khoa xuất hiện sớm đủ cho họ được chữa trị kịp thời. Khi bạn bỏ qua các triệu chứng đó, hoặc điều trị chậm trễ có thể dẫn đến tử vong.
Do đó hãy theo dõi cơ thể bạn! Nếu cơ thể bạn có những dấu hiệu bất thường, hãy đến gặp bác sĩ. Rất có thể là các triệu chứng đó không liên quan đến ung thư, nhưng tốt hơn hết bạn vẫn nên kiểm tra để được an toàn.

1. Đau xương chậu

Đau khung chậu có đặc điểm là đau hoặc ép bên dưới rốn. Đau dai dẳng và không chỉ giới hạn trong thời kỳ tiền kinh nguyệt. Đau khung chậu có liên quan với bệnh ung thư dạ con, ung thư buồng trứng, ung thư cổ tử cung, ung thư ống dẫn trứng và ung thư âm đạo.

2. Trướng bụng và đầy hơi

Đây là một trong những triệu chứng phổ biến của ung thư buồng trứng. Nó cũng là một triệu chứng mà chúng ta hay bỏ qua nhiều nhất. Đầy hơi có thể khiến chúng ta không thể cài khuya quần được, hoặc thậm chí phải tăng size.

3. Đau dai dẳng ở phần hông

Triệu chứng này xảy ra ở lưng dưới và thường đau âm ỉ. Một số phụ nữ coi nó như là hậu quả của quá trình lao động nặng nhọc. Tuy nhiên đây là một triệu chứng của bệnh ung thư buồng trứng.

4. Chảy máu âm đạo bất thường

Chảy máu âm đạo bất thường là triệu chứng phổ biến nhất ở phụ nữ khi họ bị bệnh ung thư phụ khoa. Ở giai đoạn nặng, chảy máu giữa các kỳ, chảy máu trong và sau khi quan hệ tình dục đều coi là hiện tượng âm đạo chảy máu và là triệu chứng của ung thư phụ khoa. Các triệu chứng của chảy máu âm đạo bất thường có liên quan đến: ung thư cổ tử cung, ung thư tử cung, buồng trứng ung thư.
Xem chi tiết…

Những triệu chứng của bệnh ung thư vú

Bạn cảm thấy đau, nặng nề hoặc vẻ ngoài núi đôi của bạn thay đổi, hoặc nổi hạch... Đừng chủ quan vì đó có thể là những dấu hiệu của bệnh ung thư vú. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về những dấu hiệu của căn bệnh này.

1. Nửa người trên bị đau

Biểu hiện đầu tiên là người bệnh thường xuyên cảm thấy đau nửa người trên. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do các lớp biểu bì bị căng cứng. Chính các u nang hoặc sự thay đổi hooc-mon dẫn đến sự căng cứng này.

2. Vú to lên

Vú to lên có thể là dấu hiệu của bệnh u xơ lành tính. Bệnh này có thể làm thay đổi cấu trúc của ngực. Tuy nhiên, các khối u ác tính phát triển cũng có thể là nguyên nhân làm cho vú to lên bất thường. Có 2 giả thiết được đặt ra:

+ Các hạch ung thư phát triển khiến kích cỡ của vú thay đổi.

+ Các tế bào ung thư phát triển gây viêm nhiễm.

3. Một trong hai đầu nhũ hoa bị thụt vào trong

Nhũ hoa bị thụt vào trong có thể là triệu chứng của 1 khối u nằm ngay phía sau  (do các tế bào ung thư kéo lớp biểu bì vào phía trong).

Trong trường hợp có u, nhũ hoa bị thụt vào trong sẽ trở nên cứng. Ngay cả khi dùng tay, bệnh nhân cũng không thể kéo nhũ hoa này ra được.

4. Có hạch dưới nách

Hạch dưới nách có thể là do sức đề kháng của cơ thể tạo ra nhưng cũng có thể là một khối u phát triển theo hệ hạch.

Hạch dưới nách là giai đoạn đầu tiên của bước phát triển khối u, đôi khi nó cũng là dấu hiệu đầu tiên của bệnh.

5. Có u ở núi đôi

Xuất hiện u ở núi đôi là hiện tượng bất thường. Đó có thể là u lành tính hoặc u nang; hạch hay u ác tính.

Làm thế nào để biết đó là hạch? Nhìn chung, hạch thường nằm ở bên cạnh vú, gần nách; màu sắc ở vùng da nổi hạch ít có sự thay đổi mà chỉ thấy nổi cục.

6. Da núi đôi thay đổi

Làn da của núi đôi thay đổi có thể là do u xơ lành tính hoặc do các khối u ác tính. Các lớp biểu bì da có cùng cấu trúc với tuyến vú, do đó các lớp biểu bì này sẽ có sự phát triển bất thường cùng với các tế bào u ác tính.

Biểu hiện dễ thấy nhất là da của núi đôi nhăn nheo hoặc nổi hạt.

7. Xuất hiện bệnh eczama

Khi bị bệnh eczama thông thường, người bệnh cảm thấy ngứa hoặc bị dị ứng. Đây không phải là triệu chứng của bệnh ung thư. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đây là là dấu hiệu của bệnh ung thư vú.

Khi bệnh eczama xuất hiện ở nhũ hoa thì bạn cần phải chú ý. Nếu đầu nhũ hoa bị lở loét và có vẩy nến thì có thể là do:

+ Khối u phát triển lên bề mặt da

+ Khối u của da phát triển trong núi đôi.

Ngay khi phát hiện một trong những triệu chứng trên, bệnh nhân cần: Khám bác sỹ trong 2 tuần. Bác sỹ sẽ cho chụp tia X vú hoặc lập biểu đồ sinh thái của vú.

Giảm bớt nguy cơ mắc bệnh bằng cách nào?

Tập thể dục mỗi ngày, có chế độ dinh dưỡng lành mạnh, tránh thức ăn nhiều mỡ, ăn nhiều trái cây và rau quả có sinh tố A và C, giảm rượu bia, thuốc lá...

Có thời gian biểu kiểm tra vú định kỳ: 20-39 tuổi tự khám vú định kỳ mỗi tháng một lần và đến bác sĩ chuyên khoa để khám vú 1 năm/lần. Trên 40 tuổi nên thực hiện cả 2 phương pháp trên và chụp hình quang tuyến vú 1 năm/lần. Thời gian khám tốt nhất là 5 ngày sau mỗi kỳ kinh.

Tự khám vú tại nhà bằng cách đứng trước gương, hai tay xuôi theo người nhìn xem ngực có sự thay đổi về hình dạng và kích thước không. Sau đó, một tay chống vào hông tay kia vặn và siết đầu vú xem có dấu hiệu rỉ dịch hay chảy máu không. Bạn có thể nằm ngửa, tay trái đưa ra sau gáy, dùng các ngón tay phải ép sát tuyến vú vào thành sườn, đẩy lên xuống để tìm kiếm khối u hoặc mảng dày bất thường (lập lại bước này với vú phải). Sau cùng, dùng phần mềm đầu ngón tay tìm kiếm hạch ở hõm nách.

Cách điều trị ung thư vú:  Tuỳ thuộc vào bệnh ở giai đoạn nào bác sĩ sẽ có cách điều trị hiệu quả cho người bệnh.

Bạn nên đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai hoặc Viện K (Hà Nội) để được chẩn đoán kịp thời và chính xác!
Xem chi tiết…

Triệu chứng hiệu nhận biết ung thư thực quản

Thực quản là một ống tiêu hoá chứa thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Các tuyến của thực quản chế tiết ra các chất nhầy giúp làm ẩm đường dẫn thức ăn và thức ăn có thể đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Thực quản nằm ngay sau đường dẫn khí hay còn gọi khí quản, ở người trưởng thành thực quản dài khoảng 25cm.


Thực quản là một ống tiêu hoá chứa thức ăn và các chất lỏng đi từ họng xuống dạ dày. Các tuyến của thực quản chế tiết ra các chất nhầy giúp làm ẩm đường dẫn thức ăn và thức ăn có thể đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Thực quản nằm ngay sau đường dẫn khí hay còn gọi khí quản, ở người trưởng thành thực quản dài khoảng 25cm.


Khi khối u lan tràn ra ngoài thực quản, đầu tiên nó thường đi đến hệ bạch huyết (hạch bạch huyết thường nhỏ, có cấu trúc bờ rõ và là một phần của hệ miễn dịch cơ thể). ung thư thực quản cũng có thể xâm lấn ra hầu hết các bộ phận khác của cơ thể bao gồm: gan, phổi, não, xương…

Các yếu tố nguy cơ ung thư thực quản

Yếu tố gây bệnh chính xác của ung thư thực quản hiện nay chưa rõ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản:

Tuổi:  ung thư thực quản thường gặp ở những bệnh nhân lớn tuổi, phần lớn các bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trên 60.

Giới: Thường gặp ở nam hơn ở nữ.

Thuốc lá: Hút thuốc lá hoặc các chế phẩm có thuốc lá là nguy cơ chủ yếu gây ung thư thực quản.

Rượu: Những người nghiện rượu hoặc uống rượu thường xuyên có nguy cơ cao bị ung thư thực quản, nguy cơ này đặc biệt cao ở những người sử dung cả rượu và thuốc lá. Các nhà khoa học tin rằng những chế phẩm này làm tăng các tác dụng có hại của nhau trong quá trình gây ung thư thực quản.


Các bệnh lý khác gây hoại tử niêm mạc thực quản như nuốt phải chất acide hoặc các chất phụ gia khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản.



Xác định các yếu tố làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản là bước đầu tiên để tiến đến dự phòng căn bệnh này. Chúng ta đã biết cách tốt nhất dự phòng căn bệnh này là từ bỏ hoặc không bao giờ hút thuốc lá và sử dụng các chế phẩm có thuốc lá và hạn chế uống rượu ở mức trung bình. Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các khả năng làm giảm nguy cơ bị ung thư thực quản bằng cách thay đổi chế độ ăn tăng lượng rau và hoa quả ăn vào hàng ngày.

Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu phương pháp làm giảm nguy cơ bị ung thư thực quản đối với các bệnh nhân bị bệnh Barrett thực quản.

Phương pháp tốt nhất là từ bỏ hoặc không bao giờ bắt đầu sử dụng thuốc lá và hạn chế sử dụng rượu

Các dấu hiệu nhận biết ung thư thực quản

Ở giai đoạn sớm, ung thư thực quản thường không có biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên khi khối u phát triển, có thể xuất hiện các triệu chứng:

+ Nuốt đau, nuốt khó.

+ Gầy sút cân nhiều

+ Đau họng hoặc lưng, phía sau xương ức hoặc hai xương bả vai.

+ Rát họng hoặc ho kéo dài.

+ Nôn

+ Ho ra máu

Các triệu chứng này có thể do ung thư thực quản gây ra hoặc do một căn bệnh khác. Với các triệu chứng này, cần phải đến bác sỹ kiểm tra.

Chẩn đoán ung thư thực quản

Để tìm ra nguồn gốc của các triệu chứng, các bác sỹ cần khai thác kỹ tiền sử bệnh tật của bệnh nhân và tiến hành khám lâm sàng một cách kỹ càng. Bác sỹ thường cho làm các xét nghiệm:

Chụp thực quản có uống thuốc cản quang: Đây là biện pháp chụp Xquang thực quản hàng loạt. Bệnh nhân sẽ uống một chất lỏng cản quang, chất cản quang này sẽ bám vào mặt trong của thực quản và cho thấy bất kỳ hình ảnh bất thường nào về hình dạng của thực quản trên phim chụp Xquang.


Đánh giá giai đoạn của ung thư thực quản

Khi đã được chẩn đoán là ung thư thực quản, bác sỹ cần phải biết đánh giá giai đoạn của ung thư hay còn gọi là mức độ lan tràn của khối u. Đánh giá giai đoạn là bước cố gắng để tìm ra xem khối u đã xâm lấn hay chưa và đã xâm lấn đến bộ phận nào của cơ thể. Biết được giai đoạn của bệnh sẽ giúp các thầy thuốc lập kế hoạch điều trị. Dưới đây mô tả 4 giai đoạn của ung thư thực quản:

-  Giai đoạn 1: ung thư chỉ nằm ở lớp trên cùng của thành thực quản.

-  Giai đoạn 2: ung thư lan đến lớp sâu hơn của thành thực quản hoặc xâm lấn đễn tổ chức bạch huyết lân cận.ung thư chưa xâm lấn đến các bộ phận khác của cơ thể.

-  Giai đoạn 3: ung thư xâm lấn lớp sâu hơn của thành thực quản hoặc xâm lấn tổ chức hoặc hạch bạch huyết trong vùng cạnh thực quản.


Chụp cắt lớp vi tính (C.T. Scanner): một máy tính được nối với máy chụp Xquang cho ra hàng loạt các chi tiết về các bộ phận bên trong cơ thể.

Xạ hình xương: Với kỹ thuật này, hình ảnh của xương được tái tạo lại trên màn hình máy tính và trên phim chụp giúp chẩn đoán xem khối u đã di căn xương hay chưa. Một lượng nhỏ hoạt chất có hoạt tính phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch., chất này sẽ đI theo bộ máy tuần hoàn đến tập trung chủ yếu vào xương đặc biệt vùng xương phát triển bất thường. Một dụng cụ đo hoạt tính phóng xạ vùng này giúp xác định di căn xương.

Nội soi phế quản: Sử dụng một ống soi phế quản mềm và có đèn chiếu qua đường miệng hoặc mũi của bệnh nhân đi xuống qua đường dẫn khí để đánh giá các tổn thương của đường hô hấp.

ĐIều trị


Điều trị ung thư thường gây tình trạng tăng cảm răng miệng và nhiễm khuẩn do đó bác sỹ thường khuyên bệnh nhân đến gặp nha sỹ khám và điều trị các bệnh răng miệng trước điều trị.

Có nhiều nhiều biện pháp  được sử dụng nhằm kiểm soát ung thư, giảm các triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Phẫu thuật: Là biện pháp điều trị chủ yếu ung thư thực quản. Thông thường khối u được lấy cùng với một phần hoặc toàn bộ thực quản, tổ chức bạch huyết kế cận và các tổ chức khác trong vùng. Sau đó phần còn lại của thực quản sẽ được nối với dạ dày giúp bệnh nhân vẫn tiếp tục nuốt như bình thường. Trong một số trường hợp đoạn nối có thể được tạo bởi một đoạn ruột non hoặc một ống nhựa. Phẫu thuật viên có thể mở rộng đoạn nối giữa dạ dày và rột non giúp thức ăn đi xuống dạ dày dễ dàng hơn. Phẫu thuật có thể được thực hiện sau các biện pháp điều trị khác.

Xạ trị: là biện pháp sử dụng nguồn tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị chỉ ảnh hưởng đến các tế bào trong vùng điều trị. Tia phát ra có thể xuất phát từ máy xạ trị (xạ ngoài), hoặc từ hoạt chất có hoạt tính phóng xạ được đặt vào khối u (xạ trong). Một ống nhựa được đặt vào thực quản giúp thực quản luôn mở. Xạ trị có thể được điều trị đươn thuần hoặc kết hợp hoá chất như một biện pháp điều trị khởi đầu thay cho phẫu thuật đặc biệt khi khối u lớn và ở vị trí khó khăn cho phẫu thuật. Thậm chí cả khi khối u không thể lấy bỏ được bằng phẫu thuật hoặc xạ trị thì điều trị tia xạ có thể giúp giảm đau và giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn.

Hoá trị liệu là biện pháp sử dụng các hoá chất kháng u để tiêu diệt tế bào ung thư. Các hoá chất thường được sử dụng bằng đường tĩnh mạch và sẽ lưu thông khắp cơ thể. Hoá chất có thể kết hợp xạ trị như biện pháp điều trị khởi đầu thay cho phẫu thuật hoặc nhằm làm giảm kích thước u trước phẫu thuật.


Điều trị quang động học: Sử dụng một số thuốc được hấp thụ chủ yếu bởi tế bào ung thư. Khi các tế bào này được chiếu dưới ánh sáng đặc biệt, các thuốc sẽ trở nên có hoạt tính và có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể sử dụng liệu pháp quang động học giúp giảm các triệu chứng khó nuốt của ung thư thực quản.

Bệnh nhân có thể lựa chọn các biện pháp mới điều trị ung thư thực quản. Trong một số nghiên cứu, toàn bộ bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới, trong một số nghiên cứu khác, một nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới, một nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp thông thường (điều trị chuẩn), các bác sỹ sẽ so sánh hiệu quả các biện pháp điều trị và đưa ra biện pháp điều trị hiệu quả nhất.

Tác dụng phụ của điều trị

Thường khác nhau tuỳ thuộc loại thuốc và từng bệnh nhân. Các bác sỹ,  y tá sẽ giải thích về các tác dụng phụ và đưa ra các biện pháp giúp làm giảm các triệu chứng này.

Phẫu thuật ung thư thực quản: Gây đau và tăng cảm giác vùng phẫu thuật trong một thời gian ngắn và có thể kiểm soát được bằng một số thuốc. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn các bài tập thở và ho đặc biệt để giúp làm sạch phổi.

Xạ trị: Có thể ảnh hưởng đến tế bào lành và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào vùng điều trị và liều điều trị. Thường gặp các triệu chứng khô, đau họng, miệng, khó nuốt, sưng đau lợi, mệt mỏi và thay đổi vùng da điều trị. Bệnh nhân có thể mất cảm giác ăn ngon miệng.

Hoá chất: Cũng giống điều trị tia xạ, hoá chất có thể ảnh hưởng đến cơ quan bình thường hoặc các cơ quan bị ung thư. Tác dụng phụ chủ yếu phụ thuộc vào thuốc điều trị và liều lượng sử dụng. Có thể gặp các triệu chứng: buồn nôn, nôn, giảm cảm giác ngon miệng, rụng tóc, đỏ da, ban đỏ, đau môi và họng miệng. Các triệu chứng này hết dần trong quá trình hồi phục giữa các  đợt điều trị hoặc sau khi điều trị kết thúc.

Điều trị Laser: Có thể gây đau trong một thời gian ngắn khi điều trị nhưng có thể kiểm soát được bằng thuốc.

Điều trị quang động học: Có thể làm da và mắt tăng nhạy cảm với ánh sáng sau 6 tuần điều trị hoặc lâu hơn. Các tác dụng phụ khác có thể bao gồm: ho, khó nuốt, đau bụng, đau khi thở, hoặc cảm giác hụt hơi.

Các bác sỹ, y tá sẽ giải thích về các tác dụng phụ và đưa ra các biện pháp giúp làm giảm các triệu chứng này.

Dinh dưỡng đối với bệnh nhân ung thư

Ăn uống tốt trong suốt quá trình điều trị có nghĩa là đảm bảo đầy đủ calo và protein giúp duy trì cân nặng và đảm bảo sức khoẻ, ăn uống tốt giúp bệnh nhân cảm giác thoải mái và khoẻ mạnh hơn.

Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân ung thư thực quản do có khó khăn về nuốt, cảm giác mệt mỏi và không thoải mái  nên ăn uống không ngon miệng. Ngoài ra, các tác dụng phụ điều trị như ăn kém ngon, buồn nôn, nôn, khô đau miệng sẽ làm cho bệnh nhân khó ăn. Thức ăn lúc này có mùi vị khác.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể được nuôi dưỡng trực tiếp bằng đường tĩnh mạch (truyền TM), hoặc nuôi dưỡng qua một ống thông bằng nhựa được đặt qua mũi hoặc miệng xuống dạ dày cho tới lúc họ có thể tự ăn uống được.

Bệnh nhân ung thư thực quản thường được khuyến khích cho ăn nhiều bữa nhỏ và nhẹ hơn là ăn ba bữa chính như bình thường. Khi nuốt khó bệnh nhân vẫn có thể cố gắng nuốt thức ăn mềm, được làm mềm với nước canh hoặc được xay nhỏ. Các bác sỹ, chuyên gia dinh dưỡng giúp bạn các lời khuyên về ăn uống giữ gìn cơ thể khoẻ mạnh.

Theo dõi sau điều trị ung thư thực quản là rất quan trọng đảm bảo phát hiện kịp thời các dấu hiệu bất thường. Nếu khối u tái phát, tiến triển hoặc xuất hiện khối u mới, bệnh nhân cần được điều trị càng sớm càng tốt. Theo dõi sau điều trị bao gồm: khám lâm sàng, chụp Xquang, hoặc làm các xét nghiệm. Trong thời gian giữa các cuộc hẹn, bệnh nhân cần phải thông báo đầy đủ các triệu chứng bất thường cho bác sỹ càng sớm càng tốt ngay sau khi chúng xuất hiện.
Xem chi tiết…